PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG KHU VỰC CHẾ TÁC CỦA VIỆT NAM

PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG KHU VỰC CHẾ TÁC CỦA VIỆT NAM Từ khóa : Phân bổ không đúng nguồn lực, biến dạng đầu ra và vốn, ...


PHÂN BỔ KHÔNG ĐÚNG CÁC NGUỒN LỰC TRONG KHU VỰC CHẾ TÁC CỦA VIỆTNAM
Từ khóa: Phân bổ không đúng nguồn lực, biến dạng đầu ra và vốn, năng suất nhân tố tổng hợp; khu vực chế tác

Ngày nhận: 26/5/2017
Ngày nhận bản sửa: 11/9/2017 Ngày duyệt đăng: 25/12/2017


Nguyễn Thị Phương

Đại học Thăng Long

Nguyễn Khắc Minh

Đại học Thăng Long Email: khacminh@gmail.com



Tóm tắt:

Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của phân bổ không đúng nguồn lực đến năng suất nhân tố tổng hợp, tập trung vào các doanh nghiệp chế tác Việt Nam dựa trên bộ điều tra doanh nghiệp của Việt Nam và số liệu của Cục quốc gia về nghiên cứu Kinh tế của Mỹ trong giai đoạn 2000- 2012. Chúng tôi áp dụng khung nghiên cứu của Hsieh & Klenow (2009) được hiệu chỉnh theo số liệu của Mỹ để trả lời nguồn lực phân bổ sai ở Việt Nam ở mức độ nào? năng suất cải thiện như thế nào khi không có biến dạng? phát triển khu vực kinh tế nào có mức phân bổ sai thấp ở Việt Nam? Những câu trả lời cho các câu hỏi trên như sau. Thứ nhất, phân bổ không đúng Việt Nam có thể so sánh với Trung Quốc và Ấn Độ. Thứ hai, sẽ có những cải thiện đáng kể ở TFP là 24,1% trongtrường hợp không sự biến dạng.Cuối cùng, mức phân bổ không đúng nguồn lực được tìm thấy lớn nhất ở Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và nhỏ nhất ở Bắc Trung Bộ.
Từ khóa: Phân bổ không đúng nguồn lực, biến dạng đầu ra và vốn, năng suất nhân tố tổnghợp; khu vực chế tác

Resource Misallocation in the Manufacturing Sector of Vietnam

Abstract:
This study examines the effect of misallocation on Total Factor Productivity of Vietnam (TFP) manufacturing firms based on Vietnam national enterprise survey and the data from National Bureau of Economic Research of the United States (US) in the period 2000-2012. We apply the research framework of Hsieh & Klenow (2009) adjusted according to US’s data to answer the following questions: (i) To what extent are resources misallocated in Vietnam?; (ii) How large would the productivity gain in the absence of distortions?; and (iii) How to develop the area which has a low level of resource misallocation in Vietnam? The answers to these questions are as followed: First, misallocation in Vietnam is comparable to that in China and India. Second, there would have been substantial improvement in TFP (24.1%) in the absence of distortions. And last, the resource misallocation is found largest in the Central Highlands, Mekong Delta and the smallest in the North Central.
Keywords: Resource misallocation, output and capital distortion, total factor productivity, manufacturing sector.


 
Luận văn có đề tài "Lòng trung thành" tốt nghiệp miễn phí
Chứa các yếu tố hưởng đến lòng trung thành của khách hàng,,các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của nhân viên
Mô hình nghiên cứu lòng trung thành của khách hàng,,lý thuyết về lòng trung thành của khách hàng
Thang đo lòng trung thành của khách hàng,,mô hình lòng trung thành của khách hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu

Lòng trung thành thương hiệu (Brand. Loyalty). Khi thực hiện nghiên cứu về sức mạnh của một thương hiệu thì tác giả Thọ và cộng sự. (2011) cho rằng có 02 ..
Vui lòng chia sẻ giúp Trang ww.top123.vn Bạn nhé (^_^)

1.  Giới thiệu

Câu hỏi tại sao một số nước giàu có hơn những nước khác, tại sao một số nước nghèo nhưng đã trở nên giàu có hơn sau một vài thập kỷ và tại sao một số nước vẫn còn nghèo được các nhà kinh tế nghiên


cứu trong một thời gian dài. Ban đầu để trả lời câu hỏi này, Solow (1957) cho rằng sản lượng của một quốc gia về cơ bản phụ thuộc vào năng suất cận biên của đầu vào, lao động và vốn, và thay đổi công nghệ (sau đó được gọi năng suất nhân tố tổng


hợp - TFP). Theo như ý tưởng của Solow, nhiều nhà nghiên cứu tin rằng sự khác biệt trong TFP nguồn gốc chính của sự khác biệt giữa các quốc gia về thu nhập bình quân đầu người (Klenow & Rodriguez- Claire, 1997; Hall & Jones, 1999; Caselli, 2005).
Vậy điều gì quyết định sự khác biệt trong TFP giữa nước giàu và nước nghèo? Ban đầu, động lực này được quy cho công nghệ và các nhà kinh tế thường tìm kiếm câu trả lời trong việc đánh giá TFP ở cấp vĩ mô. Tuy nhiên, rất khó để tranh luận rằng sự lâu dài đáng kể của khác biệt TFP giữa các quốc gia chỉ đơn giản do lan tỏa công nghệ chậm. Cách tiếp cận gần đây mà điển hình của Hsieh & Klenow (2009) cho thấy rằng TFP gộp không chỉ phụ thuộc TFP của các đơn vị sản xuất riêng lẻ mà còn phụ thuộc vào việc phân bổ các đầu vào như thế nào giữa các đơn vị sản xuất này. Hay nói cách khác, TFP gộp thể thấp bởi các đầu vào bị phân bổ không đúng (hay còn gọi phân bổ sai) giữa các đơn vị sản xuất không đồng nhất. Phát triển một phương pháp đo lường phân bổ sai nguồn lực và điều tra nguyên nhân nào dẫn đến phân bổ sai cả lý thuyết và thực nghiệm rất quan trọng để tiến hành các chínhsách kinh tế tốt hơn.
Từ các lý do đề cập ở trên, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm về đo lường phân bổ không đúng trong khu vực chế tác của Việt Nam áp dụng phương pháp của Hsieh & Klenow (2009). Các câu hỏi nghiên cứu trong bài gồm: 1) Ở Việt Nam nguồn lực phân bổ không đúng mức độ nào? 2) năng suất nhân tố tổng hợp có thể đạt được như thế nào trong trường hợp không có biến dạng? 3) phát triển khu vực kinh tế nào có mức phân bổ sai thấp Việt Nam? Bài viết được bố cục thành 4 phần. Phần 2 sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Phần 3 phân tích và thảo luận các kết quả thu được từ nghiên cứu này. Phần cuối đưa ra kết luận và các khuyến nghị giải pháp.

2.    Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

             Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm
Việc phân bổ không đúng nguồn lực được hiểu  là các yếu tố sản xuất chủ yếu là vốn và lao động không được phân bổ theo cách mà chúng được sử dụng trong một tỷ lệ sao cho sản lượng có thể đạt tới mức tối đa với các nguồn lực sẵn có. Khi chính phủ can thiệp và thay đổi chúng theo chính sách, cácnguồn lực này sẽ bị phân bổ sai, dẫn tới việc sản xuất kém hiệu quả hơn. Việc phân bổ tốt nhất sẽ tối đa hóa phúc lợi hiệu quả đầu ra sẽ đạt được trong


dài hạn. Sự phân bổ không đúng sẽ dẫn tới mức đầu ra thấp hơn và do đó là năng suất nhân tố tổng hợp thấp hơn. Do đó, một trong những phát triển quan trọng nhất về lý thuyết tăng trưởng của thập kỷ vừa qua là sự đánh giá cao về tác động của phân bổ sai các nguồn lực. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra nguyên nhân đứng đằng sau phân bổ sai.
 Biến dạng của giá đầu vào và đầu ra
Một nguồn tiềm năng gây ra việc phân bổ không đúng sự hiện diện của sự biến dạng do giá các yếu tố sản xuất (Hsieh & Klenow, 2009; Guner & cộng sự, 2008; Restuccia & Rogerson; 2008). Các nghiên cứu trên có đề cập đến việc các hệ thống ngân hàng có thể đưa ra mức lãi suất ưu đãi đối với các khoản cho vay của một bộ phận các doanh nghiệp nào đó dẫn đến sự phân bổ tín dụng sai lệch giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp non trẻ thể đối mặt với chi phí thuê vốn cao hơn các doanh nghiệp lâu đời. Đây là bằng chứng của sự hiện diện các ràng buộc về tín dụng của định chế tài chính lên các doanh nghiệp trẻ do uy tín lịch sử tín dụng chưa được đảm bảo. Biến dạng đầu ra thể gây ra do chínhphủ trợ cấp các nhà sản xuất cụ thể, ưu đãi về thuế đặc biệt hoặc các hợp đồng sinh lợi để thúc đẩy các nhà sản xuất có quy mô lớn. Cơ sở của việc tính toán biến dạng của giá đầu vào và đầu ra được các nhà nghiên cứu trước đưa ra dựa trên việc doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng tạo ra điều kiện hình thành giá đầu ra của sản phẩm là phần chi phí cận biên thêm vào mức lãi được doanh nghiệp thiết lập. Sau khi mức giá đầu ra này, biến dạng của giá đầu vào và đầu ra được thể hiện qua các công thức toán học.
 Rào cản thương mại phần lợi nhuận
thêm vào chi phí biên hàng hóa (mức biên lợi) của doanh nghiệp
Cạnh tranh không hoàn hảo diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế. Khi công ty có sức mạnh độc quyền thiết lập mức biên lợi cụ thể (khoản lãi cộng thêm vào các chi phí để hình thành giá bán do người bán xác định nhằm trang trải các chi phí cố định và có được lợi nhuận) thì thị trường sản phẩm cạnh tranh không hoàn hảo với mức biên lợi cụ thể của doanh nghiệp cũng đã được đề xuất như là một nguồn phân bổ sai (Syverson, 2004). Những doanh nghiệp có sức mạnh độc quyền với lợi thế về chi phí, quy mô... có thể thiết lập mức biên lời khiến giá hàng hóa bán ra có thể thấp hơn hoặc khác biệt nhiều so với đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành. Nền kinh tế tồn tại rào cản thương mại sẽ cản trở cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nội địa


với nhau, giữa doanh nghiệp nội địa và nước ngoài khiến cho sức mạnh độc quyền trở nên rõ ràng hơn. Do đó, tự do hóa thương mại được cho là giúp giảm


với công nghệ CES (s=1,2..S) sản xuất.



Bảng 6: Sự phân tán TFPR và TFPQ theo vùng miền của Việt Nam


Trung du và miền núi phía
Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Duyên hải bắc Trung bộ
Duyên hải nam Trung bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
S.D
(TFPR)
0,89
0,91
0,82
0,87
0,97
0,92
0,94
S.D
(TFPQ)
2,35
2,22
2,11
2,36
2,53
2,31
2,39
75-25
1,03
1,03
1,01
1,05
1,04
1,04
1,09
90-10
2,07
2,06
2,05
2,09
2,09
2,07
2,18
Nguồn: Tính toán của tác giả


này sẽ làm giảm chi phí lao động, từ đó giảm biến dạng đầu ra và do đó là giảm phân bổ sai.

4.  Kết luận và khuyến nghị giải pháp

Các kết quả ước lượng trên đã cho thấy ba điểm quan trọng.
Thứ nhất, mức phân bổ sai ở Việt Nam giai đoạn 2000-2012 thể so sánh với Trung Quốc Ấn Độ. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu trước đây mà đề cập rằng các nguồn lực ở các quốc gia đang phát triển được phân bổ không hiệu quả.
Thứ hai, sẽ có cải thiện đáng kể trong TFP nếu không có sự biến dạng. Nếu Việt Nam giả định dịch chuyển đến “mức hiệu quả của Mỹ”, TFP sẽ được tăng 24,1 phần trăm. Những kết quả này cùng với nhau cho thấy rằng cải thiện năng suất thông qua việc loại bỏ các biến dạng là rất quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của một ngành công nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cải cách hơn nữa trong thị trường vốn và đầu ra có thể cải thiện TFP tổng hợp rất đáng kể tại Việt Nam thông qua giảm phân bổ không đúng.
Thứ ba, khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ được tìm thấy có mức phân bổ sai các nguồn lực lớn nhất. Do đó, nhà nước cần có các chính sách  để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với nguồn vốn vay một cách hiệu quả. Việc đánh thuế và trợ cấp các doanh nghiệp ở những khu này cần một quy trình minh bạch để xác định đúng đối tượng được


hưởng ưu đãi thuế và trợ cấp. Các nguồn lực phân bổ sai được tìm thấy nhỏ nhất ở khu vực duyên hải Bắc Trung Bộ. Những năm gần đây, tiềm năng Bắc Trung Bộ đang được đánh thức với sự phát triển mạnh mẽ của các khu kinh tế ven biển như: Khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa); Đông Nam (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh); Hòn La (Quảng Bình); Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Ngoài ra, Bắc Trung Bộ có 3 khu kinh tế cửa khẩu: Lao Bảo (Quảng Trị), Cha Lo (Quảng Bình), Cầu Treo (Hà Tĩnh). Đây là lợi thế khi các nhà đầu tư đầu tư vào Bắc Trung Bộ. Với mức phân bổ các nguồn lực sai ở mức thấp, khu kinh tế này khi được Nhà nước hỗ trợ đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp thì nền kinh tế khu vực này sẽ tăng trưởng mạnh và thu hút nhà đầu nước ngoài.Bắc Trung Bộ chưa tạo được đột phá trong thu hút đầu tư bởi khu vực chưa biết cách khai thác lợi thế của mình. Để khai thác tốt  lợi thế của Bắc Trung Bộ, Chính phủ cần đẩy mạnh hợp tác giữa các địa phương trong vùng, nhằm tạo ra sự đồng thuận hướng tới xây dựng một khu vực có môi trường đầu tư hấp dẫn, nâng cao cạnh tranh lành mạnh xây dựng thương hiệu cho cả khu vực. Chính phủ cần tiếp tục có những hỗ trợ tích cực đối với Bắc Trung Bộ, cho nhà đầu nước ngoài hưởng ưu đãi nhất định, để đưa nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhà đầu tư.

Tài liệu tham khảo

Related

Tạp chí kinh tế 5413417337750979732

Post a Comment

item