Trang chia sẽ: "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo
Top VN - "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo

Danh mục: "Nghiên cứu Kinh doanh"

Bài học Kinh doanh Bán hàng Online Cần làm gì Chuyên đề Chuyện tình cảm Chuyện vợ chồng Cơ hội Kinh doanh Có nên làm Có nên mua Đắc nhân tâm Dạy con làm giàu Dạy làm giàu Dạy làm người Đề thi - Đáp án Đề thi Địa lý Đề thi Lớp 1 Đề thi Lớp 10 Đề thi Lớp 12 Đề thi Lớp 2 Đề thi Lớp 5 Đề thi Lớp 6 Đề thi Lớp 9 Đề thi tham khảo Đề thi THPT Quốc gia Đề thi Tin học Đề thi Toán học Đề thi trắc nghiệm Đề thi Tuyển sinh Dị ứng Điểm chuẩn ĐH Điện thoại Download tạp chí kinh tế phát triển English Hàng xách tay Học làm giàu Hoc sinh cấp 3 Hoc sinh lớp 1 Hoc sinh lớp 10 Hoc sinh lớp 12 Hoc sinh lớp 2 Hoc sinh lớp 5 Khoa hoc Khuyến mãi của Adayroi Khuyến mãi của Sendo Khuyến mãi hôm nay Kiếm tiền Kinh doanh Kinh doanh Online Kinh tế Luận án Tiến sĩ Luận án Tiến sĩ Kinh tế Luận văn - Báo cáo Luận văn Thạc sĩ Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Mã giảm giá Mã giảm giá Adayroi Mã giảm giá Lazada Mã giảm giá Sendo Mã giảm giá Shopee Mã giảm giá túi balo Mã giảm giá vali Ma-giam-gia Môn Tiếng Anh Môn Tiếng Trung Môn Tin học Môn Toán Năm học 2018 Năm học 2019 Năm học 2020 Nên làm gì Nghiên cứu Kinh doanh Nghiên cứu Pháp luật xã hội Ngoại tình Người yêu củ Phụ nữ Quấy rối Sách Sách English Sách hay nhất Sách Lớp 2 Sách Lớp 5 Sách Lớp 9 Sách tâm lý Sách Tiếng Anh Sách Tin học Sản phẩm khuyến mãi Sau đại học Sức khỏe Tài liệu Cơ học kỹ thuật Tài liệu Kinh tế Tài liệu Kỹ thuật Tài liệu Kỹ thuật Cầu đường Tài liệu Kỹ thuật Ceramic Tài liệu Kỹ thuật Chế tạo Tài liệu Kỹ thuật Cơ điện tử Tài liệu Kỹ thuật Cơ khí Tài liệu Kỹ thuật Công trình biển Tài liệu Kỹ thuật Dầu khí Tài liệu Kỹ thuật Dệt may Tài liệu Kỹ thuật Điện tử Tài liệu Kỹ thuật Điều khiển tự động Tài liệu Kỹ thuật Hạ tầng cơ sở Tài liệu Kỹ thuật Hàng không Tài liệu Kỹ thuật Hạt nhân Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống công nghiệp Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống truyền thông Tài liệu Kỹ thuật Khai thác thủy sản Tài liệu Kỹ thuật Luyện kim Tài liệu Kỹ thuật máy tính Tài liệu Kỹ thuật Sinh học Tài liệu Kỹ thuật Viễn thông Tài liệu miễn phí Tài liệu tham khảo Tài liệu Tiếng Anh Tài liệu Toán Tài liệu Vật lý Tạp chí kinh tế Tiền bạc Tiếng Anh Tiếng Hoa Tiếng Trung Quốc Tìm việc làm Tin học Tin tức công nghệ Tư vấn review Tuyển sinh Cao đẳng Tuyển sinh Đại học Tuyển sinh Đại học 2019 Tuyển sinh Trung cấp
Showing posts with label Nghiên cứu Kinh doanh. Show all posts

Nghiên cứu: Quản trị lợi nhuận và Thông tin liên quan đến giá trị cổ phiếu

Quản trị lợi nhuận và Thông tin liên quan đến giá trị cổ phiếu
Tóm tắt/ Abstract:
Earnings Management and Stock Price Informativeness
This paper examines the effect of earnings management on stock price informativeness. Using a data set of firms listed on HO CHI MINH Stock Exchange and HANOI Stock Exchange in the period of 2007-2017, we find that earnings management is positively associated with stock price informativeness. This result is consistent with the hypothesis that the developing countries with institutional environment, information environment have not yet been perfected and the protection of the investor’s rights is not efficient, result in the higher level of earnings management, the larger amount of value relevant information is capitalized into stock price by informed trading of internal shareholders. Therefore, earning management enhances stock price informativeness.
Keywords: Earnings Management, Stock price informativeness, Transparency, Valuerelevant information

1. Giới thiệu

Giá cổ phiếu chịu tác động của cả thông tin vĩ mô và thông tin đặc thù công ty. Thông tin vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ cổ phiếu trên thị trường, trong khi đó thông tin đặc thù công ty chỉ ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của công ty. Quá trình thu thập, phân tích thông tin đặc thù công ty có liên quan đến giá trị và giao dịch cổ phiếu dựa trên các thông tin đó được gọi là quá trình chuyển hóa thông tin vào giá cổ phiếu, kết quả làm cho giá cổ phiếu mang tính thông tin (Grossman, 1976; Shleifer & Vishny, 1997). Như vậy, tính thông tin của giá cổ phiếu được hiểu là lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Tính thông tin của giá cổ phiếu cao hàm ý rằng giá cổ phiếu chứa đựng nhiều thông tin đặc thù công ty và ít thông tin vĩ mô của thị trường. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao (Wurgler, 2000; Durnev & cộng sự, 2004). Bên cạnh đó, tính thông tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận biết phản ứng của thị trường về những quyết định của mình, và do vậy giúp họ đưa ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị công ty. Tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường nhận diện chất lượng các quyết định của những nhà quản trị công ty và lựa chọn công ty cho mục đích đầu tư, từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư (Durnev & cộng sự, 2004; Chen & cộng sự, 2007). Có thể thấy, việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu ngày càng trở nên cấp thiết vì có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan quản lý Nhà nước, nhà quản trị cũng như nhà đầu tư. Quản trị lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm làm cho các bên có liên quan đánh giá không chính xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo (Healy & Wahlen, 1999). Nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng quản trị lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến môi trường thông tin doanh nghiệp, cụ thể ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng thông tin. Do vậy, quản trị lợi nhuận là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu (Zarowin, 2002; Jin & Myers, 2006; Fernandes & Ferreira, 2009; Hutton & cộng sự, 2009; Brockman & cộng sự, 2010; Rajgopal & Venkatachalam, 2011; Kim & Shi, 2012). Tuy nhiên, ảnh hưởng (gồm cả mức độ và chiều hướng tác động) của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu phụ thuộc vào môi trường thể chế và thông tin của mỗi quốc gia (Ball & cộng sự, 2000; Hope, 2003; Leuz & cộng sự, 2003; Bushman & cộng sự, 2004; Haw & cộng sự, 2004; Durnev & Kim, 2005; Burgstahler & cộng sự, 2006; Bushman & Piotroski, 2006).

Bài báo này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trước hết, về mặt lý luận, kết quả thực nghiệm làm rõ thêm mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu cho một quốc gia cụ thể như Việt Nam và có thể sử dụng cho việc nghiên cứu có liên quan. Thứ hai, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp những hàm ý chính sách đối với nhà đầu tư trong việc phân tích và xây dựng danh mục đầu tư, các nhà quản trị trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm hướng đến gia tăng giá trị công ty, và các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động của thị trường chứng khoán trong việc ổn định và gia tăng hiệu quả của thị trường.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

2.1.1. Nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu

 Nghiên cứu về tính thông tin của giá cổ phiếu đã thu hút sự quan tâm đáng kể của những nhà nghiên cứu học thuật trên thế giới trên nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ vĩ mô, Li & cộng sự (2004), Jin & Myers (2006), Fernandes & Ferreira (2009) thấy rằng giá cổ phiếu ở các nước có môi trường thông tin không minh bạch, hoặc ở các nước có sự hội nhập thấp về mặt kinh tế, tài chính vào nền kinh tế thế giới thường ít chứa đựng thông tin liên quan đến giá trị. Nghiên cứu của Morck & cộng sự (2000), Dang & cộng sự (2015) cho thấy rằng giá cổ phiếu có xu hướng đồng biến động cao ở các nước đang phát triển, ở những nước có môi trường thể chế yếu, thiếu sự bảo vệ cho lợi ích của nhà đầu tư. Trong những quốc gia với môi trường như thế, thông tin do công ty công bố ra công chúng thường ít tin cậy, lượng thông tin được công bố bị hạn chế, không kịp thời, và không có nhiều giá trị. Nhà đầu tư khó tiếp cận những thông tin hữu ích cho việc đầu tư. Thêm vào đó, việc bảo vệ không đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư làm cho họ không có động lực để thu thập và phân tích thông tin. Kết quả là giá cổ phiếu trên thị trường không mang tính thông tin cao. Ở góc độ công ty, nghiên cứu của Piotroski & Roulstone (2004), Hutton & cộng sự (2009), Gul & cộng sự (2010), Kim & Shi (2012) cung cấp các minh chứng rằng những yếu tố liên quan đến vấn đề quản trị công ty, môi trường thông tin (theo nghĩa lượng thông tin tin cậy mà thị trường có thể tiếp cận được qua các kênh như công bố trực tiếp của chính công ty, từ các nhà phân tích cổ phiếu của công ty, từ các nhóm sở hữu trong công ty có lợi thế về thông tin) đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hay giảm lượng thông tin được phản ánh trong giá cổ phiếu. Cụ thể, trong những công ty với cơ chế quản trị tốt hoặc công ty với môi trường thông tin minh bạch, nhà đầu tư bên ngoài có thể dễ dàng tiếp cận những thông tin liên quan đến giá trị, và tiến hành giao dịch cổ phiếu của công ty dựa trên những thông tin đó. Điều này dẫn đến giá cổ phiếu của công ty mang tính thông tin cao.

 2.1.2. Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

Có thể thấy, vấn đề trọng tâm của thị trường chứng khoán là thông tin bất đối xứng. Điều này xuất phát chủ yếu từ việc các doanh nghiệp không minh bạch trong công bố thông tin, dẫn đến một nhóm đối tượng được tiếp cận thông tin nhanh và chính xác hơn và tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với những đối tượng thông thường khác trong giao dịch. Thông tin bất đối xứng tạo ra nhiều rủi ro và gây thiệt hại cho một số nhóm nhà đầu tư tham gia thị trường và có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thị trường. Thông thường, bất đối xứng thông tin xảy ra khi các cổ đông nội bộ sở hữu thông tin đặc thù công ty nhiều hơn so với các nhà đầu tư bên ngoài. Đây cũng chính là lý thuyết giải thích cho quản trị lợi nhuận. Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các lập luận đối lập về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Quan điểm thứ nhất chứng minh rằng mức độ quản trị lợi nhuận càng tăng thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng tăng. Nghiên cứu của Zarowin (2002) và Rajgopal & Venkatachlam (2011) cho thấy trong môi trường thông tin kém minh bạch, thông tin đặc thù công ty có khả năng bị rò rỉ bởi những đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty. Do vậy, khi nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận, mặc dù các nhà đầu tư bên ngoài khó có thể tiếp cận các thông tin đặc thù công ty hữu ích cho việc đầu tư nhưng nhóm lợi ích này lại tận dụng được lợi thế thông tin nội bộ của mình để thực hiện giao dịch cổ phiếu của công ty và góp phần chuyển hóa kịp thời và chính xác thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị vào giá cổ phiếu thông qua các giao dịch này. Hệ quả, làm gia tăng tính thông tin của giá cổ phiếu (Carlton & Fischel, 1983; Manne, 1996). 

Trong khi đó, quan điểm thứ hai cung cấp minh chứng cho thấy mức độ quản trị lợi nhuận càng tăng thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng giảm. Đối với các nước phát triển với môi trường thể chế tốt và môi trường minh bạch, khi nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận, mặc dù họ sở hữu lợi thế thông tin nội bộ công ty nhưng sẽ không có cơ hội tận dụng lợi thế này để tiến hành giao dịch cổ phiếu do luật pháp không cho phép. Bên cạnh đó, giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư chủ yếu dựa trên thông tin chung của thị trường do chỉ có thể tiếp cận phần lớn loại thông tin này. Kết quả, biến động giá cổ phiếu chủ yếu là do tác động của thông tin thị trường, dẫn đến tính thông tin của giá cổ phiếu thấp (Jin & Myers, 2006). Dựa trên nghiên cứu của Jin & Myers (2006), khi phân tích các nhân tố thuộc về công ty, Hutton & cộng sự (2009) cho thấy quản trị lợi nhuận làm cho thông tin được công bố đến thị trường bị hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng. Điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu chứa đựng ít thông tin đặc thù công ty và làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu (Fan & Wong, 2002; Jin & Myers, 2006; Gul & cộng sự, 2010).Các nghiên cứu của Jing (2007) và Johston (2009) cũng ủng hộ cho quan điểm này. Dựa vào hai quan điểm trên, tác động thật sự của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào môi trường thể chế của quốc gia, cụ thể, nếu môi trường thể chế yếu thì quản trị lợi nhuận sẽ có tác động cùng chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu, ngược lại, nếu môi trường thể chế mạnh thì quản trị lợi nhuận sẽ tác động ngược chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Đây là một vấn đề cần nghiên cứu thực nghiệm. Cho đến nay, có thể thấy các nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu phần lớn tập trung ở các nước phát triển, hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này thực hiện tại Việt Nam được ghi nhận (theo sự hiểu biết tốt nhất của tác giả). Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam vì một số lý do sau: (1) tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu trong các nghiên cứu trước đây; (2) sự khác biệt về môi trường thể chế, môi trường thông tin và sự bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư giữa các quốc gia có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ này; (3) việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan Nhà nước, nhà quản trị và nhà đầu tư.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nguồn dữ liệu Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm báo cáo tài chính và dữ liệu giá cổ phiếu của các công ty niêm yết được cung cấp bởi StoxPlus, một công ty chuyên thu thập và phân tích dữ liệu tài chính của các công ty ở Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm toàn bộ công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2017. Dữ liệu không bao gồm các ngân hàng do đặc thù kinh doanh, đặc điểm tài chính kế toán và yêu cầu quản lý của lĩnh vực này có sự khác biệt đáng kể so với các ngành khác.

  2.2.2. Đo lường các biến + Tính thông tin của giá cổ phiếu (Infor) Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên cách tiếp cận của Roll (1988), Morck & cộng sự (2000) và Jin & Myers (2006) để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu của mỗi công ty cho mỗi năm dựa trên giá trị R2 từ hồi quy mô hình thị trường sau: ri,t = αi + βi rM,t + εi,t (1) Trong đó: ri,t : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu i tại tuần t của mỗi năm; rM,t : Tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường tại tuần t của mỗi năm. Một giá trị R2 từ mô hình (1) thấp nghĩa là biến động tỷ suất lợi tức của cổ phiếu công ty được giải thích phần lớn bởi thông tin đặc thù của công ty và ít chịu ảnh hưởng bởi thông tin chung của thị trường.

Nói cách khác, R2 thấp hàm ý giá cổ phiếu của công ty mang tính thông tin cao (Morck & cộng sự, 2000; Jin & Myers, 2006). Bởi vì giá trị R2 bị giới hạn giữa 0 và 1, R2 được biến đổi logarit để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu dựa trên nghiên cứu Morck & cộng sự (2000) như sau: Infori = log((1- Ri 2 ) Ri 2 ) (2)

Một giá trị cao của Infor thể hiện giá cổ phiếu mang tính thông tin cao và ngược lại. + Quản trị lợi nhuận (DA) Quản trị lợi nhuận trong phạm vi bài báo được giới hạn trong việc nhà quản trị vận dụng các chính sách kế toán dựa trên cơ sở kế toán dồn tích khi lập và trình bày báo cáo tài chính, không đề cập đến việc quản trị lợi nhuận bằng cách điều chỉnh giao dịch thực. Cụ thể, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Nếu nhà quản lý có động cơ quản trị lợi nhuận, việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí có thể dẫn đến lợi nhuận công bố thay đổi. Quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu trước đây thường được nhận diện thông qua các mô hình định lượng biến dồn tích (accruals). Accruals là phần chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Accruals bao gồm hai phần: biến dồn tích không tuỳ ý (NDA - nondiscretionary accruals) - phần này gắn với mức độ hoạt động thông thường của doanh nghiệp; phần còn lại được gọi là biến dồn tích tuỳ ý (DA- discretionary accruals), có được do việc quản trị lợi nhuận của nhà quản lý. Để nhận diện quản trị lợi nhuận, các mô hình đi vào ước lượng giá trị biến dồn tích không tuỳ ý, trên cơ sở đó để xác định được phần giá trị biến dồn tích tuỳ ý. Nghiên cứu này sử dụng mô hình Jones điều chỉnh của Dechow & cộng sự (1995) - là mô hình ước lượng quản trị lợi nhuận được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam hiện nay. Mô hình có dạng như sau:

Dựa trên các nghiên cứu trước đây như Piotroski & Roulstone (2004), Chan & Hameed (2006), Fernandes & Ferreira (2008), bài báo kiểm soát trong mô hình hồi quy các biến đặc thù công ty có thể có ảnh hưởng chi phối đến quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu để loại trừ ảnh hưởng ròng của biến quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Các biến kiểm soát được mô tả trong Bảng 1. Để hạn chế ảnh hưởng của các quan sát ngoại vi, bài báo loại bỏ các quan sát của các biến ở phân vị 1% và phân vị 99% trong phân phối mẫu của mỗi biến.

2.2.3. Mô hình nghiên cứu Bài báo phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng như sau: Infori,t = γ + δDAi,t-1 + ηControlsi,t-1 +qn + dt + ζi,t (4) Trong đó: Infori,t: Tính thông tin giá cổ phiếu của công ty i được đo lường tại năm t DAi,t-1: Quản trị lợi nhuận được đo lường bằng giá trị tuyệt đối của biến dồn tích tùy ý qua mô hình Jones điều chỉnh (Dechow & cộng sự, 1995) tại năm t-1 Controlsi,t-1: Các biến kiểm soát đặc thù công ty tại năm t-1 qn : ảnh hưởng cố định ngành dt : ảnh hưởng cố định năm ζi,t: sai số ước tính của mô hình Định nghĩa các biến được trình bày ở Mục 2.2.2. Các biến độc lập được đưa vào mô hình hồi quy với giá trị trễ để hạn chế ảnh hưởng theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến biến quản trị lợi nhuận. Mô hình hồi quy cũng bao gồm các ảnh hưởng cố định ngành (qn ) và ảnh hưởng cố định năm (dt ) nhằm kiểm soát tác động chi phối của ngành và thời gian lên ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Bài báo sử dụng sai số chuẩn robust để giải quyết hiện tượng phương sai không đồng nhất và ước lượng sai số chuẩn theo cụm mỗi công ty để giải quyết vấn đề tự tương quan khi tính giá trị thống kê t như phương pháp của Petersen (2009).


3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan

Ở trên  trình bày thống kê mô tả của biến tính thông tin của giá cổ phiếu, biến quản trị lợi nhuận và các biến kiểm soát. Tính thông tin của giá cổ phiếu trung bình là 2,688 trong khoảng thời gian mẫu được đo lường bởi Infor. Kết quả này cho thấy tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới đối với các nước đang phát triển (He & cộng sự, 2013). Trung bình, mức độ điều chỉnh lợi nhuận khoảng 24,8% trên tổng giá trị tài sản (ước lượng hệ số của giá trị tuyệt đối biến dồn tích tùy ý DA là 0,248) cho thấy các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thực hiện quản trị lợi nhuận trong giai đoạn nghiên cứu 2007-2017. Điều này có khả năng làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính đánh giá không đúng tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể dẫn đến rủi ro thông tin cho các đối tượng tham gia thị trường. Bảng 3 trình bày ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (4).

Có thể thấy từ Bảng 3, biến đo lường quản trị lợi nhuận – biến dồn tích tùy ý (DA) có tương quan dương với biến tính thông tin của giá cổ phiếu Infor. Cụ thể, hệ số tương quan cặp giữa biến tính thông tin của giá cổ phiếu và biến dồn tích tùy ý là 0,013. Kết quả này cung cấp một đánh giá ban đầu về quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Nhìn chung, tương quan giữa các biến độc lập là thấp, do đó hạn chế khả năng xảy ra đa cộng tuyến trong mô hình hồi

 3.2. Kết quả thực nghiệm

Trình bày kết quả hồi quy của mô hình (4). Trong cột (1), bài báo thực hiện hồi quy OLS thông thường. Mô hình hồi quy bao gồm biến quản trị lợi nhuận và các biến kiểm soát, ảnh hưởng cố định ngành và năm. Kết quả cho thấy biến quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng thuận chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Cụ thể, ước lượng hệ số của biến quản trị lợi nhuận là 0,167 (t-statistic= 2,42) với mức ý nghĩa 5%, hàm ý rằng mức độ quản trị lợi nhuận càng lớn thì giá cổ phiếu có tính thông tin càng cao. Kết quả này được giải thích dựa trên lý thuyết thông tin bất đối xứng và phù hợp với trường hợp của các nước đang phát triển với môi trường thể chế chưa hoàn thiện, môi trường thông tin ít minh bạch cùng với việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư chưa được quan tâm đúng mức và luật giao dịch nội gián chưa thực sự hiệu quả như Việt Nam. Trong môi trường như thế, khi những người điều hành công ty thực hiện quản trị lợi nhuận, thông tin đặc thù công ty hữu ích cho mục đích đầu tư có khả năng không được công bố thông qua kênh chính thống là báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cổ đông nội bộ là nhóm lợi ích biết rõ và dễ dàng tiếp cận những thông tin này. Giao dịch cổ phiếu của những cổ đông nội bộ làm cho giá cổ phiếu có xu hướng mang tính thông tin cao.

Kết quả này được lý giải là bởi vì những cổ đông nội bộ thường có lợi thế thông tin về hoạt động của công ty (Brockman & Yan, 2009).Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới như Zarowin (2002) và Rajgopal & Venkatachlam (2011). Đối với các biến kiểm soát, ước lượng hệ số cũng khá nhất quán với kết quả được ghi nhận trong các nghiên cứu trên thế giới. Cụ thể, các công ty với vốn hóa thị trường lớn (MV) thì tính thông tin của giá cổ phiếu thấp. Đồng thời, các cổ phiếu có rủi ro biến động giá cao (StdRet) thì tính thông tin của giá cổ phiếu thấp.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

4.1. Kết luận Bài báo này cung cấp minh chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2017, kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với quan điểm đối với các nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam với đặc điểm môi trường thông tin chưa minh bạch cùng với sự bảo vệ chưa đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư, luật giao dịch nội gián chưa chặt chẽ, khi mức độ quản trị lợi nhuận càng cao, thông tin đặc thù công ty sẽ được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thông qua giao dịch của các đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty càng nhiều, hệ quả, giá cổ phiếu mang tính thông tin càng cao.

4.2. Hàm ý chính sách và quản trị giá mang tính thông tin cao.

 Ngoài ra, giá trị R2 của mô hình hồi quy tương đối cao (35,5%), cho thấy các biến được lựa chọn cùng với các ảnh hưởng cố định trong mô hình giải thích một phần đáng kể biến động của biến phụ thuộc. Trong phân tích mô hình hồi quy ở cột (1) của Bảng 4, mặc dù bài báo đã sử dụng giá trị trễ của các biến độc lập để hạn chế khả năng tác động theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận, vẫn có thể tồn tại tác động ngược chiều nếu như biến phụ thuộc có sự tự tương quan cao theo thời gian. Để giải quyết vấn đề này, bài báo kiểm soát thêm biến trễ tính thông tin của giá cổ phiếu trong mô hình hồi quy (l_Infor). Kết quả này được trình bày ở cột (2) của Bảng 4. Kết quả cho thấy ước lượng hệ số trên biến dồn tích tùy ý vẫn không thay đổi về mặt định tính và giá trị hệ số vẫn có ý nghĩa thống kê. Dữ liệu nghiên cứu của bài báo bao gồm toàn bộ các công ty niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự khác nhau về quy mô, điều kiện niêm yết, cấu trúc vi mô thị trường của mỗi Sở Giao dịch cũng có thể ảnh hưởng chi phối đến quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Để giải quyết vấn đề này, các tác giả kiểm soát thêm trong mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định niêm yết (ảnh hưởng Sở Giao dịch). Kết quả thể hiện ở cột (3) của Bảng 4 vẫn nhất quán với các phát hiện trong phần phân tích chính.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

4.1. Kết luận

Bài báo này cung cấp minh chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2017, kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với quan điểm đối với các nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam với đặc điểm môi trường thông tin chưa minh bạch cùng với sự bảo vệ chưa đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư, luật giao dịch nội gián chưa chặt chẽ, khi mức độ quản trị lợi nhuận càng cao, thông tin đặc thù công ty sẽ được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thông qua giao dịch của các đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty càng nhiều, hệ quả, giá cổ phiếu mang tính thông tin càng cao.

  4.2. Hàm ý chính sách và quản trị

 Tính thông tin của giá cổ phiếu có ảnh hưởng đến hiệu quả chức năng của thị trường chứng khoán. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước cần tập trung trên hai phương diện:

(1) thứ nhất, gia tăng tính minh bạch của môi trường thông tin;
(2) thứ hai, tăng cường sự bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư và thực thi hiệu quả luật giao dịch nội gián.

Cụ thể, nhà hoạch định chính sách cần có những giải pháp hoàn thiện chuẩn mực kế toán để tăng cường độ tin cậy của thông tin công bố. Đồng thời, có chế tài xử lý hữu hiệu hơn đối với việc quản trị lợi nhuận của nhà quản trị. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể xem xét việc thiết lập khung pháp lý liên quan đến vấn đề công bố thông tin liên tục nhằm tăng cường chất lượng thông tin công bố. Ở cấp độ vi mô, tính thông tin của giá cổ phiếu cao có thể giúp nhà quản trị ra quyết định hiệu quả hơn trong đầu tư vốn. Do vậy, việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà quản trị. Đối với trường hợp các nước đang phát triển, việc thông tin bị rò rỉ và giao dịch nội gián của các cổ đông nội bộ thường là phổ biến (Morck & cộng sự, 2000). Vì vậy, tăng cường sự minh bạch trong công bố thông tin của các công ty niêm yết và hạn chế giao dịch nội gián là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đối với nhà đầu tư, tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường lựa chọn công ty đầu tư, từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư. Do vậy, quyết định đầu tư cổ phiếu chỉ trở nên hiệu quả hơn khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao.

Kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra nhà đầu tư phải xem xét tầm quan trọng của việc nhận diện quản trị lợi nhuận của công ty, góp phần làm tăng tính chính xác trong quyết định đầu tư.

5. Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 

 Mặc dù, các tác giả đã hạn chế khả năng tác động theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận bằng cách sử dụng giá trị trễ của biến độc lập và kiểm soát thêm biến trễ tính thông tin của giá cổ phiếu trong mô hình hồi quy, tác động ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận vẫn có thể tồn tại. Bên cạnh đó, bài báo chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu chứ chưa phân tích cơ chế thông qua đó quản trị lợi nhuận có thể tác động đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Trong tương lai, về mặt phương pháp, các nghiên cứu có thể sử dụng biến công cụ phù hợp để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh của mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Ngoài ra, có thể bổ sung nội dung về phân tích cơ chế quản trị lợi nhuận tác động đến tính thông tin của giá cổ phiếu hoặc nghiên cứu sự kiện về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu trước và sau khi áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU Nguyễn Mạnh Toàn
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018 P.20

Nghiên cứu: Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công

Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công
Improving Public Administration Service Quality in Vietnam from Marketing Perspective Abstract:

Public administration service is a vital service of any country. Public administration service quality is directly related to the socio-economic development of the country. Early recognizing the importance of this issue, the Government of Vietnam in the tenure of 2016-2021 has introduced the doctrine of “building a Government for development creation, integrity, taking drastic action, serving people and businesses”. Such a government is closely related to public administration service quality provided by that government. In fact, for a long time, the Party and State have been aware of this issue. Previous governments of Vietnam have carried out much renovation and reformed administrative procedures, but the progress was not as expected. At the present time, to be able to make the above doctrine come true, the Prime Minister has set up a working group chaired by the Head of the Government Office to regularly inspect and urge the ministries, local authorities to “simplify” administrative procedures, but a government “for development creation, integrity, taking drastic action, serving” still does not appear. What should be done to really improve public administration service quality in Vietnam today? Based on the review of existing proposals and the assessment of current status of public administration service quality in Vietnam today, this paper will focus on a new approach – from market perspective – to get access to the nature of public administration service in the context of the society led and ruled by one communist party to establish market economy institutions. This helps increase scientific justification for the determination to implement existing solutions and possibly suggest more effective, better solutions for the provision of public administration service in Vietnam today.
Keywords: Public administration service, Marketing perspective, Solutions

1. Đặt vấn đề

Dịch vụ hành chính công là một dịch vụ mà chủ thể là chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương của một quốc gia cung cấp cho xã hội để thực hiện những điều liên quan đến thể chế đã được Hiến pháp và các Bộ luật của quốc gia đó quy định. Do đó, dịch vụ hành chính công là một bộ phận cấu thành tối quan trọng của thể chế phát triển của quốc gia đó. Việt Nam theo đuổi thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được trên 30 năm.

Trong suốt chặng đường đó, đã không ít lần Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra chủ trương cải cách nền hành chính công, nhưng cho đến nay nền hành chính công ở Việt Nam vẫn chậm đổi mới và chưa đáp ứng tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có lúc, có nơi, có lĩnh vực thủ tục hành chính vẫn như một cái “ách” và trở thành một trong những rào cản nặng nề nhất cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Minh chứng cho nhận định này, trong một phiên họp chuyên đề của Chính phủ về xây dựng pháp luật, ngày 22/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phải nhận xét: “Với quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp”, nhưng ông “Chưa hài lòng về công việc này trong thời gian qua…” điều đặc biệt là, “trong khi Chính phủ đang thực hiện cải cách hành chính rất mạnh mẽ, thì có luật đưa ra lại “đẻ” thêm thủ tục, quyền hạn cho bộ mình, ngành mình, buộc các bộ, ngành khác “phải qua mình” nên thủ tục chồng lên chất nhiều” (Linh Tâm, 2017a). Để thực hiện cho bằng được công việc này “Chính phủ kêu gọi các bộ, ngành, địa phương từ bỏ quyền lực để rộng đường cho doanh nghiệp phát triển”. Vì theo như Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho rằng: “Có dám từ bỏ quyền lực vì doanh nghiệp, có chống được lợi ích nhóm, thì mới có thể xây dựng thành công Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đó là con đường chỉ được phép tiến, lùi là thất bại. Vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xuất hiện ngay từ khi xây dựng thể chế…” (Đoàn Trần, 2018a). Quyết tâm đó của Chính phủ đã được sự đồng thuận và bảo trợ cao của lãnh đạo Đảng. Tại các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Đảng đã chia sẻ “không chỉ đánh tham nhũng lớn, mà còn tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham nhũng vặt vì đi làm gì cũng phải phong bao, phong bì, lót tay, gợi ý. Tham nhũng vặt như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu, chứ không phải chỉ có tham nhũng lớn”. Như vậy Đảng và Chính phủ có quyết tâm chính trị rất cao về việc xây dựng một nền hành chính công hiệu quả và văn minh. Nhưng thực tế vẫn còn nhiều việc không mong muốn vẫn xuất hiện và dai dẳng tồn tại. Bộ trưởng Văn phòng Chính đã nhận xét “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/ năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…Nếu cứ như vậy thì các doanh nghiệp của chúng ta làm sao cạnh tranh được với DN các nước?” (Đoàn Trần, 2018a).  Theo ông, ở một số lĩnh vực vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu và chi phí không chính thức, thủ tục hành chính mặc dù đã được cải cách nhưng vẫn còn nhiều “cửa”, nhiều “khóa”; cắt giảm nhiều thủ tục chưa đạt như mong muốn” (Đoàn Trần, 2018b). Có thể nói, những phát biểu trên của các cấp lãnh đạo Chính phủ đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về nền hành chính công của Việt Nam hiện nay. Một nền hành chính công yếu kém như thế làm sao Việt Nam có được một thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy vì sao việc cải cách nền hành chính công của Việt Nam rất trì trệ, làm gì nữa và làm như thế nào để có một bước đột phá thực chất trong việc xây dựng một nền hành chính công và kèm theo đó là cung cấp các dịch vụ hành chính công (không bàn đến dịch vụ công, nói chung) của Việt Nam theo mong đợi của người dân và doanh nghiệp, để lời hứa về một Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và phục vụ” trở thành hiện thực, để một “nhà nước của dân, do dân và vì dân” không còn chỉ là một khẩu hiệu.? Đó là câu hỏi lớn mà bài viết này muốn hướng đến góp phần giải đáp dưới góc nhìn của khoa học marketing.

2. Tổng quan kinh nghiệm của một số nước có hoàn cảnh tương đồng như Việt Nam và các công trình nghiên cứu

Đặc trưng nổi bật nhất chi phối đến nền hành chính công của Việt Nam theo tác giả là nền hành chính ấy chịu sự chi phối duy nhất của một đảng cầm quyền và lãnh đạo. Trên thế giới hiện nay đang tồn tại một loạt quốc gia có bối cảnh tương đồng như Việt Nam, chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo đất nước như: Cuba, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (về mặt pháp lý có 8 đảng tham gia chính trị), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Việt Nam, Syria, Ertrea, Turkmenistan, Sahrawi Arab Democratic Republic, Iran, Singapore (hơn 90% số ghế trong Quốc hội đơn viện thuộc về Đảng Nhân dân Hành động). Một số quốc gia khác có hệ thống đa đảng, nhưng chỉ có một đảng nắm vai trò then chốt trong thời gian dài nên cũng có thể xem như đơn đảng, đó là: Singapore, Nga, Campuchia, Cameroon, Gabon, Tanzania…Từ đây, có thể thấy trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các quốc gia do một đảng duy nhất lãnh đạo, không lựa chọn phát triển theo mô hình kinh tế thị trường đã từng xuất hiện và tồn tại khá nhiều, nhưng có thể khẳng định, chưa có một quốc gia nào thực sự thành công, theo nghĩa thuộc quốc gia phát triển. Các quốc gia đứng trong tốp các quốc gia phát triển hiện nay chủ yếu đều thuộc các quốc gia có nhiều đảng thay nhau tranh cử và lãnh đạo theo mô hình kinh tế thị trường. Các quốc gia phát triển theo mô hình kinh tế thị trường và duy nhất chỉ có một đảng giữ vai trò lãnh đạo và chi phối nền hành chính quốc gia có sự thành công lại không nhiều. Trong số này, cho đến nay mới thấy có Singapore và Trung Quốc (đang nổi lên). Có thể nói, sự thành công trong xây dựng và phát triển của đất nước Singapore dưới sự lãnh đạo lâu dài và giữ vị trí thống trị của một đảng – Đảng Nhân dân Hành động với sự phát triển kinh tế có tốc độ cao liên tục, làm tăng nhanh chóng “quốc lực tổng hợp” và nhảy lên vị trí thứ hai trên thế giới về tổng thu nhập quốc dân, chỉ sau Mỹ. Trung Quốc trong hàng chục năm qua cũng là bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam, đặc biệt là tình huống Singapore trong tiến trình xây dựng và cải cách nền hành chính công..

Bài học có thể rút ra từ tình huống Singapore chính là việc có một đảng mạnh lãnh đạo và một chính phủ quyết đoán, hành động, trong sạch, kiến tạo, phục vụ và thực tài. Tài năng ấy của Đảng cầm quyền và Chính phủ Singapore được thể hiện bằng lòng trung thành và niềm tin của dân chúng với dịch vụ hành chính công mà Chính phủ Singapore cung ứng thông qua tỷ lệ phiếu lựa chọn đảng lãnh đạo đất nước trong mỗi lần bầu cử. Từ sau ngày đất nước độc lập, đưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Hành động, mà hạt nhân là cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, đất nước Singapore luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (ngoại trừ năm 1985 tốc độ tăng trưởng kinh tế âm, năm 1986 chỉ tăng 1,9%). Cho đến nay mức thu nhập quốc dân (GDP) bình quân đầu người của Singapore xếp thứ tư trên thế giới, đạt 90.249USD

người. Hoặc như Trung Quốc, sau gần 40 năm “cải cách, mở cửa” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, với hạt nhân là Chủ tịch Tập Cận Bình đã thúc đẩy Trung Quốc vươn lên vị trí thách thức “siêu cường” của Mỹ. Tuy nhiên, tại Trung Quốc Đảng Cộng sản cũng đã tìm thấy một trong những yếu tố cản trở nhất tới uy tín lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc và còn thiếu so với Đảng Nhân dân Hành động của Singapore là nạn tham nhũng tràn lan. Để loại bỏ yếu tố đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang tiến hành chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” nhằm làm tăng uy tín và vị thế lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc không chỉ ở trong nước mà cả trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc Chính phủ Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 đưa ra chủ thuyết xây dựng một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” với quyết tâm cao trong phòng chống tham nhũng cũng như chấn chỉnh và cải tổ bộ máy là rất trúng và kế thừa được bài học kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc. Điều này cũng được thể hiện qua ý chí của người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó, những động thái liên tục kiểm tra giám sát “cương lĩnh hành động” của Chính phủ Việt Nam cho thấy Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đánh giá cao và nhận thức trúng về tầm quan trọng của việc đổi mới một cách nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đương nhiệm của Việt Nam đã tập trung cao độ trong việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công gắn liền với cải cách bộ máy, tinh giản biên chế và xây dựng con người trong việc thực thi pháp luật về cung ứng dịch vụ hành chính công.

Trên phương diện khoa học cho thấy, tại Việt Nam đã có nhiều đề án, nhiều công trình khoa học thuộc đề tài nghiên cứu các cấp, một số sách và bài viết đề cập đến lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Những công trình, bài viết đó, hoặc đề cập đến đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc đề cập đến nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc chuyên về đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam theo các góc nhìn khác nhau của các khoa học chuyên ngành cụ thể. Trên cơ sở đó, các công trình, đề tài, bài viết đề xuất nhiều sáng kiến, nhiều giải pháp rất đáng lưu tâm. Liên quan đến chủ đề này có thể kể đến các công trình như: “Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra” (http://www.kdtqt.duytan.edu. vn); “Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (text.xemtailieu.com); Trần Kim Cúc (2010), Vũ Trí Dũng (2014), nghiên cứu “Cải cách hành chính công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thâm (Học viện Hành chính Quốc gia). Dưới đây xin đề cập tới một số công trình, bài viết điển hình liên quan tới chủ đề này.

Nguyễn Văn Đồng (2017) đã phân tích, luận giả vấn đề xoay quanh dịch vụ hành chính công, làm rõ thực trạng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống các khái niệm có giá trị tham khảo tốt. Về khái niệm dịch vụ công bài viết cho rằng: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng”. Trong bài viết này, tác giả cũng phân chia dịch vụ công thành 3 loại, bao gồm: Dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ công trong lĩnh vực công ích và dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính nhà nước hay còn gọi là dịch vụ hành chính công. Từ đó tác giả đưa ra khái niệm dịch vụ hành chính công như sau: “Dịch vụ hành chính công là một loại dịch vụ công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân”. Nói cách khác, dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của Nhà nước”. Dịch vụ hành chính công là một hợp phần nằm trong “nền hành chính nhà nước” với bốn yếu tố cấu thành: hệ thống thể chế nhà nước, hệ thống tổ chức hành chính nhà nước, nhân sự trong bộ máy hành chính nhà nước, các nguồn lực vật chất cần thiết cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong bài viết này tác giả cũng liệt kê các dịch vụ hành chính công điển hình như: các hoạt động cấp các loại giấy phép; các hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực; các hoạt động cấp giấy đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề; hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính.

Cuốn sách “ Marketing dịch vụ công” của Vũ Trí Dũng (2014) đã đề cập khá toàn diện về marketing dịch vụ công. Tác giả đi từ khái niệm dịch vụ công, các cách phân loại dịch vụ công, đặc điểm marketing dịch vụ công, môi trường marketing dịch vụ công, chiến lược phát triển của tổ chức dịch vụ công, nghiên cứu thị trường dịch vụ công và các công cụ marketing-mix của dịch vụ công. Tuy nhiên, do cuốn sách tập trung vào dịch vụ công với cấu phần là tổ hợp các dịch vụ công rất khác nhau, nên không thấy rõ được đặc trưng của thị trường và cung ứng từng loại dịch vụ công và do đó cũng không làm rõ được tính đặc thù của marketing từng loại dịch vụ công. Với cách tiếp cận khái quát như vậy đã làm giảm đi triển vọng ứng dụng marketing đòi hỏi tính đặc thù cho từng loại dịch vụ công rất nhiều Còn nhiều đề tài và nghiên cứu khác nữa tiếp cận đến các góc độ khác nhau của dịch vụ hành chính công ở Việt Nam như đã chỉ ra ở trên, phục vụ cho các mức độ quyết sách khác nhau của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong cung ứng dịch vụ hành chính công cho dân chúng. Song chưa có một công trình, bài viết nào khám phá sâu vào bản chất, đặc trưng của marketing dịch vụ hành chính công, nên nền hành chính công ở Việt Nam, nhìn chung vẫn chưa thoát thai ra khỏi tư duy hành chính quan liêu, chưa theo kịp và chưa đáp ứng tốt cho công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế của đất nước. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đâu, bằng cách nào để tháo gỡ? Bài viết này sẽ đề cập hai khía cạnh: (i) Xem xét đặc điểm cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và, (ii) Đưa ra các kiến nghị tháo gỡ cho thực trạng trên từ góc nhìn marketing dịch vụ.

3. Đặc điểm của việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và nguyên nhân sâu xa của những bất cập

Như chúng ta đã biết marketing ra đời trong bối cảnh có cạnh tranh. Cạnh tranh đã buộc các chủ thể cung ứng hàng hóa và dịch vụ phải tìm ra bí quyết để “lôi kéo” khách hàng. Các chủ thể cung ứng dịch vụ muốn khách hàng bỏ tiền ra để mua hàng hóa dịch vụ do mình cung ứng thì họ phải tìm cách “thỏa mãn khách hàng một cách ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh” thông qua triết lý và tổ hợp marketing-mix (marketing hỗn hợp). Nếu chỉ có một chủ thể duy nhất cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho xã hội thì loại hàng hóa và dịch vụ đó là hàng hóa dịch vụ độc quyền. Đối với hàng hóa, dịch vụ độc quyền thì chủ thể cung ứng không cần phải có bất kỳ sự “cạnh tranh” nào nhưng “khách hàng” vẫn phải mua. Không có cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền. Độc quyền gắn liền với trì trệ. Đây là hai vế song trùng của bất kỳ hiện tượng kinh tế - xã hội nào. Hiện tượng này kéo lùi sự phát triển. Nhận thức được tính tất yếu này tất cả các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển phải tìm cách phá thế độc quyền bằng cách ban hành Luật chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh. Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công các quốc gia này thường chấp nhận đa đảng. Khi đó các đảng phái chính trị muốn dành được dân chúng bỏ lá phiếu (thay cho bỏ tiền để mua như hàng hóa thông thường) “mua” dịch vụ hành chính công của đảng mình thì tự đảng đó phải cạnh tranh với đảng khác trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công sao cho thỏa mãn tốt nhất mong đợi của dân chúng.

Như đã khẳng định ở trên, đặc điểm nổi bật của lãnh đạo công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay là chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo và cầm quyền. Nền hành chính công của Việt Nam bị chi phối rất lớn bởi đặc điểm này. Do đó, có thể khẳng định, nền hành chính công của Việt Nam là một dịch vụ độc quyền. Nhưng do lịch sử để lại Việt Nam không thể khác được. Theo chúng tôi, do đặc điểm cốt lõi này mà mặc dù đã qua nhiều cuộc cải cách nhưng việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam đã từng mang đậm dấu ấn của tư duy và cách thức cung cấp dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền theo kiểu của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung - quan liêu, theo cơ chế “xincho”, “ ban phát”. Do đặc điểm này mà việc chuyển đổi một cách căn bản toàn diện hệ thống hành chính quan liêu sang hệ thống hảnh chính kiến tạo và phục vụ nhằm đảm bảo tính tương đồng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ hành chính công theo mô hình cạnh tranh của kinh tế thị trường trở nên cực kỳ khó khăn. Chính vì điều này, nên nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay mang đậm dấu ấn của một nền hành chính “thoái marketing”. Để góp phần cải thiện tình trạng “trì trệ” trong công cuộc cải cách nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay, cần phải có góc nhìn và xử lý theo tư duy và triết lý marketing. Chỉ có xuất phát từ góc độ đó mới làm rõ luận cứ khoa học và sự kiên quyết trong thực thi những giải pháp mà Chính phủ đang tiến hành. Và đây chính là “khoảng trống” mà chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách thấu đáo xuất phát từ cái chốt của vấn đề.

Nếu không phá thế độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay, thì tất yếu sẽ hình thành “nhóm lợi ích”, tham nhũng, quan liêu và trì trệ, thường bị các chủ thể hoặc nhân danh chủ thể cung ứng dịch vụ khai thác gây tổn hại cho lợi ích của những người thụ hưởng – khách hàng của dịch vụ hành chính công là dân chúng và doanh nghiệp. Ở hầu hết các quốc gia đi theo mô hình kinh tế thị trường thành công thì đồng thời họ phải tuân thủ trong việc xây dựng một nền tảng cho sự tồn tại của cơ chế vận hành marketing không chỉ trong đời sống kinh tế mà phải cả trong đời sống chính trị. Một quốc gia như thế sẽ làm cho thể chế kinh tế và thể chế chính trị vận động thuận chiều trên cơ sở những nguyên tắc kiểm soát chung. Tất nhiên, mô hình cạnh tranh trong cung ứng toàn bộ các hàng hóa và dịch vụ, kể cả dịch vụ hành chính công vẫn cần sự kiểm soát vận hành để loại trừ sự khủng hoảng do cạnh tranh tự phát gây ra.

Còn với mô hình độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công thì cần phải có cơ chế kiểm soát theo hướng phá thế độc quyền của chủ thể cung ứng. Để thực hiện được điều này, việc ứng dụng triết lý marketing vào quản lý cung ứng dịch vụ hành chính công là một hướng tích cực. Nội hàm căn bản nhất của triết lý marketing là đề cao quyền lực của “khách hàng” trong giao dịch “mua, bán” dịch vụ hành chính công. Mọi cải cách hay giải pháp đề xuất nhằm cải thiện thực trạng đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền ở Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ triết lý này.

Một đặc điểm khác nữa của dịch vụ hành chính công cũng giống như mọi dịch vụ khác là chất lượng dịch vụ thường không đồng đều. Tính không đồng đều về chất lượng dịch vụ càng tăng lên và càng khó kiểm soát khi sự tham gia của con người vào các khâu trong chuỗi cung ứng dịch vụ càng lớn và sự chuyển giao việc cung ứng dịch vụ phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều khâu và nhiều người cung ứng khác nhau. Cho nên muốn cải thiện thực sự chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công phải tìm cách giảm thiểu sự can thiệp của con người, giảm chia nhỏ các khâu của quá trình cung ứng, nâng cao chất lượng con người của hệ thống và tạo cơ chế cạnh tranh của các vị trí chủ chốt trong hệ thống.

4. Một số gợi ý cho việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam

Theo chúng tôi, muốn tạo ra một bước tiến rõ nét trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công theo yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường cần phải đẩy mạnh ứng dụng triết lý marketing. Theo đó, những giải pháp thực hiện cần tập trung vào nâng cao vị thế của “khách hàng” thụ hưởng dịch vụ hành chính công, tức là nâng cao vị thế của cử tri và doanh nghiệp, trong việc “gây sức ép” đối với chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công thông qua các “giá trịlợi ích” đem lại từ các biến số marketing hỗn hợp. Những giải pháp chủ yếu có thể khai thác bao gồm:

Một là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ hành chính công. Như trên đã khẳng định, do tính chất độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công, nên đã tạo cho chủ thể cung ứng dịch vụ đó trở nên “độc đoán, chuyên quyền”, chỉ chăm lo thu vén và bảo vệ lợi ích của mình, lợi ích nhóm, bất chấp lợi ích của khách hàng. Thậm chí, các chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công còn tìm mọi cách lẩn tránh, che đậy sự kiểm soát trong nội bộ hệ thống. Vì vậy, lối thoát của bế tắc này chỉ có thể là chủ thể lãnh đạo của hệ thống (Đảng cộng sản) phải trao một phần quyền lực cho khách hàng (cử tri và doanh nghiệp). Trên thực tế, Đảng đã làm nhiều việc để tăng cường kiểm soát nội bộ của hệ thống như: tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đảng; tăng cường giám sát của cấp trên với cấp dưới, tăng cường vai trò của hệ thống kiểm tra của Đảng và thanh tra của Chính phủ…Nhưng tất cả những việc đó mới được ráo riết thực hiện gần đây và suy cho cùng, đây cũng chỉ là sự giám sát nội bộ và hiệu quả như chúng ta thấy, chưa đạt được như mong đợi, vẫn chỉ là tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Muốn cải cách tình trạng hiện nay một cách thường xuyên, liên tục đem lại hiệu quả bền vững cần tăng cường sự giám sát ngoài hệ thống mà cụ thể hơn phải là tăng cường vai trò của khách hàng và doanh nghiệp thụ hưởng dịch vụ hành chính công. Liên quan đến hướng này có nhiều giải pháp khác nhau, nhưng một trong những việc cần làm trước mắt, theo chúng tôi, phải là: đối với các vị trí chủ trì của toàn bộ hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải có chương trình và kế hoạch hành động cụ thể khi tranh cử trong suốt nhiệm kỳ và được công khai trước khách hàng. Đây thực chất là “hữu hình hóa” dịch vụ để khách hàng phần nào nắm được chất lượng dịch vụ sẽ được cung cấp, xuất phát từ tính chất vô hình của dịch vụ, nói chung. Căn cứ vào đó khách hàng sẽ giám sát tiến độ thực hiện chương trình và kế hoạch của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng cung cấp dịch vụ hành chính công do người chủ trì đó quản lý. Cấp ủy lãnh đạo trực tiếp và cấp trên sẽ dựa vào ý kiến khách hàng để tiếp tục duy trì và yêu cầu chấn chỉnh hoặc bãi nhiệm các cá nhân giữ vị trí chủ trì của các cấp chính quyền. Điều mấu chốt của ý tưởng này là phải thu thập được thông tin thực và chính xác về việc đánh giá năng lực và phẩm chất từ phía khách hàng đối với các vị trí chủ chốt của các cấp chính quyền và các cơ quan có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ hành chính công. Đối với Việt Nam hiện nay ngoài việc làm cho các cấp của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và Phòng Thương mại và Công nghiệp thực sự trở thành cơ quan đại diện cho cử tri và doanh nghiệp, cần thành lập và gia tăng vai trò của các tổ chức dân sự, vai trò của các hội quần chúng…Muốn gia tăng vai trò của các cơ quan và tổ chức nói trên theo hướng đại diện cho khách hàng cần giảm sự can thiệp của các cấp ủy Đảng vào cương lĩnh hoạt động của các tổ chức này, trừ khi các tổ chức đó có những biểu hiện chống Đảng, chống Nhà nước.

Hai là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát “giá” dịch vụ hành chính công. Trên danh nghĩa hiện nay “cái giá” được công bố chính thức cho khách hàng để được cung ứng dịch vụ công rất thấp, tức là các chi phí để hoàn thành một dịch vụ hành chính công là khá “rẻ”, nhưng trên thực tế cái giá đó rất “đắt” do các chi phí ngầm là rất lớn. Đúng như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ khẳng định “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…”. (Đoàn Trần, 2018a. Đây mới chỉ là những tư liệu liên quan đến một mảng hoạt động nhỏ của dịch vụ hành chính công. Nếu có một con số thống kê đầy đủ về những hao tổn không chính thức mà các cử tri và doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình thực hiện các dịch vụ hành chính công thì sẽ chứng minh được chính xác cái giá của các dịch vụ hành chính công “đắt đỏ” đến mức nào. Đây chính là giá độc quyền nhưng ngân sách nhà nước lại không thu được. Để giải quyết tình trạng này, trên thực tế Đảng và Nhà nước cũng đang thực hiện nhiều việc như: phòng chống tham nhũng; thực hiện cơ chế một cửa và một cửa liên thông; xây dựng chính phủ điện tử,…Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần thực hiện quyết liệt và hiện thực hóa các giải pháp trên, mặt khác, cùng với quá trình đó cần kiên quyết thực hiện mạnh và mạnh hơn nữa việc giảm biên chế trên cơ sở thực hiện khoán công việc, tăng lương đúng mức và xứng đáng đủ để tái sản xuất sức lao động cho các cán bộ và nhân viên làm việc có hiệu quả trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công, sử dụng nghiệp vụ “tình báo – đóng vai” trao cho khách hàng để giám sát và kiểm tra sâu từ bên ngoài các nhân viên và các bộ phận có liên quan đến cung ứng các dịch vụ “dễ phát sinh tham nhũng vặt”, xử lý đủ nghiêm đến mức phải loại ra khỏi bộ máy hoặc xử lý hình sự những cán bộ và nhân viên có hành vi sai phạm được phát hiện. Bên cạnh đó, cũng có thể nghiên cứu để quy định giá trần cho nhiều dịch vụ hành chính công đang được cung ứng “miễn phí” bởi hệ thống chính quyền hiện nay, đồng thời nâng trần giá chính thức các dịch vụ hành chính công còn “rẻ”. Không nên quan niệm miễn phí hoặc giá rẻ đã là tốt cho khách hàng nếu hàng hóa, dịch vụ đó không thỏa mãn mong đợi của khách hàng.

Ba là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống “phân phối” dịch vụ hành chính công. Như trên đã gợi ý, do các dịch vụ hành chính công hiện nay chủ yếu được cung cấp miễn phí bởi hệ thống chính quyền các cấp, có nghĩa là kênh phân phối các dịch vụ hành chính công tới khách hàng còn là kênh đơn nhất. Cấu trúc kênh như thế thực chất là kênh độc quyền duy nhất. Như mọi hàng hóa, dịch vụ thông thường khác khi cấu trúc kênh theo kiểu này chỉ có lợi cho chủ thể cung ứng. Cho nên, theo tác giả, song song với kênh này và cùng với việc quy định giá trần cho các dịch vụ hành chính công nên cho phép thành lập các Công ty bên ngoài hệ thống hành chính hiện hành tham gia đấu thầu cung cấp các dịch vụ hành chính công. Với cách này sẽ phá thế độc quyền duy nhất của hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay và tăng thêm quyền kiểm soát của khách hàng thông qua quyền lựa chọn kênh cung ứng dịch vụ hành chính công.

Bốn là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống truyền thông dịch vụ hành chính công. Để công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia thành công, một mặt phải tăng cường hơn nữa vai trò và quyền tự do thông tin hệ thống báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông kiểm soát, cần cho phép quần chúng có thể bày tỏ nguyện vọng và phản ánh thông tin về chất lượng dịch vụ hành chính công, cũng như thông tin về phẩm chất và năng lực của các cơ quan, của các cán bộ, nhân viên trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công qua các kênh khác như mạng xã hội và internet, không nên coi những kênh này là kênh không chính thống. Tác giả cho rằng, nếu được tổ chức tốt và khuyến khích thì đây lại là hệ thống thông tin phản biện đa chiều có vai trò rất tích cực trong việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả của việc cải cách nền hành chính quốc gia. Đây là xu hướng phù hợp với thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, cần khai thác mặt tích cực chứ không nên chỉ nghĩ đến việc khó quản lý để cấm đoán.

Năm là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát quy trình cung ứng dịch vụ hành chính công. Theo hướng này, Chính phủ, chính quyền các cấp và các cơ quan có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải ban hành bộ sách và công khai đầy đủ về mọi quy trình cung ứng từng loại dịch vụ hành chính công. Trong mỗi bước của quy trình cần các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng… gì để vượt qua. Các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng …đó thế nào là hợp quy, thế nào là không hợp quy. Để hoàn thành thủ tục mỗi bước và toàn bộ của một dịch vụ cụ thể cần thời gian là bao nhiêu và nghĩa vụ giải đáp, phải trả lời và trả kết quả cho một dịch vụ hành chính công.

Sáu là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát yếu tố con người (cả cán bộ và nhân viên) có liên quan đến cung ứng dịch vụ hành chính công. Trước hết, phải nâng cao vai trò của khách hàng, cử tri và doanh nghiệp trong việc bầu các vị trí chủ chốt của toàn bộ hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương và phải coi đây là kênh chính thức và có trọng số quyết định. Các tổ chức khác có thể giới thiệu nhân sự ứng cử vào từng vị trí chủ chốt với trách nhiệm chủ yếu là công khai về phẩm chất và năng lực của các ứng viên cho cử tri – khách hàng. Còn các ứng viên, như đã nói ở trên, phải có chương trình và kế hoạch hành động. Sau khi các ứng viên đã trúng cử, bằng nhiều hình thức khác nhau (hòm thư góp ý, phiếu chấm điểm, tổ chức điều tra xã hội học…), cơ quan cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp phải định kỳ tổng hợp và thông báo kết quả công khai thăm dò ý kiến và dư luận xã hội về phẩm chất, năng lực và tiến độ giải quyết công việc của từng bộ phận, cơ quan, vị trí công vụ.

Bảy là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát cung ứng dịch vụ hành chính công bằng cách khẩn trương xây dựng một chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử chẳng qua là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được thay đổi theo một khái niệm hoàn toàn mới, chính phủ đó gần và thuận lợi với công dân hơn bằng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mọi quan hệ giữa chính phủ và công dân bảo đảm tính minh bạch, công khai, thuận tiện, bảo đảm sự kiểm soát và giám sát lẫn nhau giữa công dân với chính phủ”. Chính phủ điện tử là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa” ( Wikipedia).

Xây dựng chính phủ điện tử là yêu cầu tất yếu của thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Do sớm nhận thức được điều này nên ngay từ năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36- NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong đó chỉ rõ: “Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…”. Nghị quyết đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 “triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực”. Để triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2015 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiên Nghị quyết số 36- NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tiếp đến ngày 14 tháng 10 năm 2015 Chính phủ ban hành Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử. Mới đây nhất, Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập Ủy ban Quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin về xây dựng Chính phủ điện tử. Tất cả các chủ trương của Đảng và hành động của Chính phủ chứng tỏ vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính phủ điện tử đã trở nên bức bách hơn bao giờ hết.

Trên góc độ marketing dịch vụ, xây dựng chính phủ diện tử cũng là phương sách thay đổi căn bản yếu tố môi trường vật chất (công cụ thứ 7 của tổ hợp marketing dịch vụ), gắn với đặc trưng về tính chất không đồng đều của chất lượng dịch vụ khi sự can thiệp của con người vào quá trình cung ứng quá nhiều. Thay đổi yếu tố môi trường vật chất cùng với thay đổi tư duy và phương thức cung ứng dịch vụ hành chính công sẽ kéo theo sự thay đổi khả năng kiểm soát của khách hàng với tất cả các biến số khác của marketing hỗn hợp. Cho nên có thể nói, việc xây dựng chính phủ điện tử, mặc dù gần đây đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quan tâm khởi động, nhưng phải nên coi đây là công việc nên làm trước hết và tập trung nguồn lực làm bằng được trong tiến trình hiện thực hóa một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” Đây là hệ thống đồng bộ các giải pháp từ góc nhìn của marketing đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công. Thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả và đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam chắc chắn sớm rút ngắn khoảng cách chênh lệch trong chất lượng dịch vụ hành chính công được cung ứng, kéo theo đó là góp phần cải thiện một cách rõ nét về vị thế và thứ hạng về mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư so với các nước thuộc tốp đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và chủ thuyết về việc xây dựng một “Chính phủ kiến tạo, dịch vụ, liêm chính và hành động” một cách thực chất mới nhanh chóng trở thành hiện thực.

Tài liệu tham khảo:
CẢI CÁCH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ MARKETING DỊCH VỤ
Trần Minh Đạo
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018 P.11

Nghiên cứu : Các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI ở Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI ở Việt Nam
Tóm tắt /Abstract:
 Determinants of FDI Attraction in the Southern Economic Region
This study analyzes the determinants of FDI attraction in the Southern Economic Region. The model of SDM (Spatial Durbin Model) is applied in the research to test the hypotheses, and the data is collected from the Statistical Yearbook of the Southern provinces in this area. The results show that these provinces not only spatially interact but also compete for the FDI attraction. At the same time, factors such as market size, labor costs, corporate agglomeration, and economic quality have a direct impact on FDI flows in the locality and an indirect effect on the FDI of the neighbors.
Keywords: FDI, SDM, Southern Economic Region.

1. Giới thiệu

Theo Quyết định số 159/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ (2007), vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm Bà Rịa − Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vùng kinh tế năng động và có vị trí quan trọng của đất nước. Theo Phạm Văn Hùng (2015), vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chỉ chiếm 9,23% diện tích, 20,77% dân số nhưng đóng góp đến 42% tổng sản phẩm nội địa (GDP), 60% ngân sách quốc gia, 40% giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu và 46,14% nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Điểm nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế − xã hội của vùng là các đóng góp lớn, vượt trội của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Giai đoạn 2009- 2013, đầu tư FDI đã tạo ra 60% giá trị sản phẩm công nghiệp, 65% giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu, góp phần lớn trong giải quyết việc làm, nâng cao trình độ tay nghề lao động và trình độ quản lý doanh nghiệp cho toàn vùng (Phạm Văn Hùng, 2015). Vì thế, vấn đề xác định các yếu tố tác động đến FDI luôn là chủ đề quan tâm trong nghiên cứu học thuật và các nhà hoạch định chính sách của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng, cả nước nói chung. Các nghiên cứu về FDI hiện nay rất đa dạng với các công trình tiêu biểu đối với Việt Nam như Tan & Meyer (2011), Trinh (2013), Nguyen (2015), Doan & Lin (2016), Le & Sakchutchawarn (2017) và Le & Tran (2018). Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều giả định các đơn vị hành chính hoàn toàn độc lập. Theo Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017), các giả định nêu trên không phù hợp vì các địa phương thường có sự chia sẻ, tương tác về cơ sở hạ tầng và các hoạt động kinh tế. Do đó, việc phân tích FDI không xem xét đến tương tác không gian giữa các địa phương có thể kết quả ước lượng bị chệch và không phù hợp (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Hơn nữa, việc đánh giá tác động không gian giúp nhận diện thấu đáo các ảnh hưởng của quá trình thu hút FDI trong một tỉnh đến quá trình thu hút FDI ở các tỉnh lân cận. Các nghiên cứu về thu hút FDI ở Việt Nam theo tiếp cận tương tác không gian chỉ xuất hiện gần đây với số lượng rất khiêm tốn, ví dụ Hoang & Goujon (2014), Esiyok & Ugur (2015) và Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017). Trong đó, Hoang & Goujon (2014) sử dụng mô hình SEM (Spatial error model), phát hiện các yếu tố con người, đặc khu kinh tế, chi phí lao động, quy mô thị trường, năng suất lao động, mức độ quần tụ doanh nghiệp có tác động đến việc thu hút FDI ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam. Esiyok & Ugur (2015) sử dụng mô hình SAR (Spatial autoregressive model) đã chỉ ra quy mô thị trường, chi phí lao động, chất lượng lao động, đầu tư trong nước, độ mở của nền kinh tế và chất lượng quản trị là các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI ở 63 tỉnh, thành cả nước. Ngoài ra, Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) sử dụng mô hình SDM (Spatial Durbin Model) để phân tích yếu tố ảnh hưởng đến FDI của các tỉnh thành Việt Nam đã phát hiện quy mô thị trường, chất lượng lao động, mức độ quần tụ các doanh nghiệp và mức độ đô thị hóa có tác động đáng kể đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

Nói chung, đây là các công trình có đóng góp quan trọng cho việc xác định ảnh hưởng không gian trong quá trình thu hút FDI và nhận diện các yếu tố chủ đạo tác động đến dòng vốn FDI tại các tỉnh thành của Việt Nam. Bài viết này chúng tôi bổ sung ảnh hưởng của chất lượng kinh tế và mức độ gia tăng dân số đến việc thu hút FDI của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Theo Peres & cộng sự (2018) thì các chỉ số liên quan chất lượng và thể chế có xu hướng là điểm then chốt trong khâu thu hút FDI vì các công ty đa quốc gia xem xét vấn đề thể chế có vai trò quan trọng khi đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển.

2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

2.1. Cơ sở lý thuyết

Ledyaeva (2009) cho rằng các nghiên cứu về FDI chủ yếu phân tích hai góc độ: FDI tìm kiếm thị trường (động cơ theo chiều ngang) và FDI tìm kiếm tài nguyên (động cơ theo chiều dọc). FDI theo chiều ngang bắt nguồn từ việc các công ty đa quốc gia tìm cách tiếp cận thị trường bên ngoài mẫu quốc để tránh các chi phí do chính sách bảo hộ mậu dịch quốc tế (Markusen, 1984). Do đó, yếu tố quyết định địa điểm đầu tư của FDI chiều ngang là chi phí xuất khẩu sang nước khác so với chi phí tiến hành sản xuất tại mẫu quốc (Hoang & Goujon, 2014). Như vậy, FDI chiều ngang sẽ sản xuất hàng hóa tương tự ở các địa điểm khác với mục đích tiếp cận thị trường và giảm chi phí thương mại (Gamboa, 2012). Trong khi đó, FDI theo chiều dọc đề cập đến việc các công ty quốc tế phân chia quá trình chế tác thành các công đoạn sản xuất ở các địa điểm khác nhau. Vì thế, FDI theo chiều dọc được hình thành từ sự khác biệt về giá yếu tố sản xuất, đặc biệt là khác biệt về chi phí lao động (Gamboa, 2012). Nói cách khác, FDI chiều dọc xuất hiện do sự khác biệt về chi phí sản xuất giữa các quốc gia, các khu vực. Hơn nữa, các công ty đa quốc gia có xu hướng tìm kiếm các nhà cung cấp với chi phí thấp nhất để phục vụ các dự định đầu tư. Vì thế, FDI chiều dọc thường xảy ra ở một địa điểm có liên quan đến các chi phí ở những địa điểm khác lân cận trong khu vực đầu tư (Esiyok & Ugur, 2015).

Ngoài ra, Gamboa (2012) cho rằng các lý thuyết FDI gần đây xem xét thêm các khía cạnh: (1) FDI động cơ theo xuất khẩu và (2) FDI động cơ theo chiều dọc phức. Trong đó, mô hình FDI xuất khẩu mô tả một công ty đa quốc gia thành lập nhà máy sản xuất ở các khu vực có thể tiếp cận với các nguồn lực tốt hơn, có chi phí sản xuất thấp hơn và địa điểm này đóng vai trò nền tảng để xuất khẩu sang các khu vực lân cận (Gamboa, 2012). Như vậy, FDI xuất khẩu tiến hành đầu tư vào một nước khác nhằm phục vụ việc xuất khẩu hàng hóa sang thị trường thứ ba. Do đó, tiềm năng thị trường ở các nước xung quanh nước tiếp nhận đầu tư có vị trí quan trọng trong việc thu hút FDI của nước tiếp nhận (Poelhekke & Ploeg, 2009). Vì vậy, FDI xuất khẩu có động cơ thương mại vùng và địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn sẽ nhận được nguồn vốn FDI nhiều hơn (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017).

Đối với FDI động cơ theo chiều dọc phức, Hoang & Goujon (2014) cho rằng các công ty quốc tế phân chia hoạt động chế tác thành các công đoạn sản xuất trung gian nằm ở các quốc gia khác nhau với mỗi công đoạn được bố trí theo lợi thế so sánh của từng quốc gia thực hiện. Như vậy, FDI theo chiều dọc phức đã phân chia quá trình sản xuất thành nhiều hoạt động theo chiều dọc và đặt chúng vào các vị trí cung cấp chi phí thấp nhất (Gamboa, 2012). Do đó, không chỉ đặc điểm của một quốc gia mà còn đặc điểm của những quốc gia lân cận là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI (Gamboa, 2012).

Nói chung, Hoang & Goujon (2014) cho rằng các FDI có các động cơ khác nhau, chịu sự chi phối nhiều yếu tố khác nhau và bị ảnh hưởng bởi tương tác không gian giữa các khu vực thực hiện dự án đầu tư. Theo Esiyok & Ugur (2015) thì một cú sốc FDI tại một địa phương sẽ lan truyền trực tiếp đến các địa phương láng giềng và gián tiếp đến hàng xóm của láng giềng. Do đó, FDI trong một địa phương có thể bị ảnh hưởng bởi quy mô FDI ở các địa phương lân cận, và vị trí của một tỉnh, thành so với thị trường khu vực là yếu tố quyết định vị trí của FDI ở tỉnh, thành đó (Hoang & Goujon, 2014).

2.2. Khung phân tích

Từ các nghiên cứu của Hoang & Goujon (2014), Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017), khung phân tích của bài viết gồm có:

Quy mô thị trường: Theo Hoang & Goujon (2014) thì quy mô thị trường phản ánh các điều kiện kinh tế và nhu cầu tiềm năng của một tỉnh nên quy mô thị trường có ý nghĩa quan trọng đối với các FDI tìm kiếm thị trường. Một địa phương có quy mô thị trường lớn sẽ hứa hẹn mang nhiều lợi nhuận từ đó thu hút được nhiều nguồn vốn FDI (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017).

Chất lượng nguồn lao động: Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) cho rằng một địa phương sở hữu nguồn lao động chất lượng cao, dồi dào sẽ thu hút được nhiều vốn FDI. Đồng thời, nguồn lao động chất lượng cao sẽ giúp các công ty quốc tế gia tăng năng suất và hiệu quả hoạt động. Do đó, một tỉnh có nhiều lao động có tay nghề cao thường thu hút được nhiều nguồn vốn FDI từ các công ty quốc tế (Hoang & Goujon, 2014).

Cơ sở hạ tầng: Theo Hoang & Goujon (2014) thì cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư quốc tế. Hơn nữa, lý thuyết OLI (Ownership advantages, location advantage, internalisation advantages) đã xác định cơ sở hạ tầng một trong các yếu tố chính thúc đẩy các công ty đa quốc gia quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư bên ngoài mẫu quốc. Một tỉnh có cơ sở hạ tầng tốt sẽ làm tiền đề cho các công ty quốc tế tăng năng suất, giảm chi phí vận chuyển từ đó tăng lợi nhuận (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017).

Sự tập trung (quần tụ) doanh nghiệp: Hoang & Goujon (2014) cho rằng FDI có xu hướng lựa chọn các khu vực có sự hiện diện và hoạt động của các doanh nghiệp khác. Sự tập trung doanh nghiệp tại một khu vực là tín hiệu phản ánh về chất lượng môi trường đầu tư của khu vực đó. Hơn nữa, Li & cộng sự (2017) cho rằng các công ty quốc tế đầu tư vào khu vực đã có doanh nghiệp hoạt động để chia sẻ cơ sở hạ tầng, nguồn lao động, logistics và các dịch vụ của Chính phủ.

Chất lượng kinh tế: Peres & cộng sự (2018) cho rằng chất lượng kinh tế đang trở thành yếu tố quyết định để thu hút FDI vì các công ty quốc tế hiện nay có xu hướng dịch chuyển từ tìm kiếm thị trường sang tìm kiếm hiệu quả. Đặc biệt, các địa phương có chất lượng kinh tế tốt có thể thu hút thêm dòng FDI quốc tế. Điều này nhờ vào chất lượng kinh tế gắn liền chất lượng thể chế. Thể chế tốt sẽ có nhiều quan tâm giáo dục và đào tạo, cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và phát triển, từ đó gia tăng khả năng thu hút FDI (Hoang & Goujon, 2014).

Mức độ gia tăng dân số và đô thị hóa: Mức độ gia tăng dân số và đô thị hóa làm thay đổi cầu tiêu dùng, tăng quy mô tiêu thụ, kích thích tăng sản xuất và dịch vụ. Điều này thúc đẩy các hoạt động sản xuất tập trung ở các khu vực đô thị để giảm chi phí vận chuyển và chi phí thương mại, từ đó thu hút FDI khai thác hiệu quả kinh tế do quần tụ. Hơn nữa, Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) cho rằng mức độ đô thị hóa càng lớn thì sự tập trung các doanh nghiệp khác ngành càng lớn từ đó càng thu hút FDI tận dụng lao động và các nguồn lực đầu vào.

Độ mở thương mại: Độ mở thương mại phản ánh cường độ, mức độ tương tác kinh tế của một địa phương với thế giới bên ngoài. Esiyok & Ugur (2015) cho rằng các tỉnh có độ mở thương mại cao hơn có nhiều khả năng cung cấp cơ sở hạ tầng tốt hơn và đáp ứng các yêu cầu về kỹ năng cho các công ty quốc tế cao hơn. Vì vậy, độ mở thương mại cao có thể kích thích các dòng vốn FDI theo định hướng xuất khẩu.

Chi phí lao động: Theo Hoang & Goujon (2014) thì chi phí lao động ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời của các FDI quốc tế. Mặc dù chi phí lao động thấp có thể chuyển tải các thông điệp về trình độ và kỹ năng lao động thấp, nhưng chi phí lao động là thành phần quan trọng của chi phí sản xuất. Do đó, chi phí lao động là một trong các điều kiện hấp dẫn FDI có động cơ theo chiều dọc (Gamboa, 2012).

3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô hình và dữ liệu nghiên cứu

Từ lý thuyết đầu tư FDI cho thấy vốn FDI vào một địa phương có thể ảnh hưởng đến vốn FDI ở các địa điểm khác; do đó, mô hình ước lượng của bài viết được thiết kế dạng kinh tế lượng không gian. Tuy nhiên, mô hình không gian rất đa dạng nên chúng tôi chỉ tập trung vào các mô hình phổ biến là SAR, SEM, SDM và SAC (Spatial Autocorrelation Model) với xuất phát điểm từ mô hình kinh tế lượng không gian tổng quát như sau: yit = ρWyit + Xitβ + WXitθ + ai + vit (1) vit = λWvit + uit uit ~ N(0,σ2 In ) Trong đó, W là ma trận trọng số không gian; Wyit:biến trễ theo không gian của biến phụ thuộc; WXit: biến trễ theo không gian của biến độc lập; Wvit: biến trễ theo không gian của sai số; hệ số ρ thể hiện sự tác động của các địa phương lân cận đến biến phụ thuộc; θ:mô tả tác động của biến độc lập ở các địa phương lân cận; λ: hệ số tự tương quan không gian, cho biết sự phụ thuộc của sai số ở quan sát này vào sai số các quan sát lân cận. Nếu θ = λ = 0 thì hệ phương trình (1) trở thành mô hình SAR; nếu ρ = θ =0 thì (1) là mô hình SEM; nếu λ = 0 thì (1) trở thành mô hình SDM; nếu θ = 0 thì (1) là mô hình SAC. Bên cạnh đó, cấu trúc của ma trận trọng số không gian W có i dòng và j cột như sau: 4 Tuy nhiên, mô hình không gian rất đa dạng nên chúng tôi chỉ tập trung vào các mô hình phổ biến là SAR, SEM, SDM và SAC (Spatial Autocorrelation Model) với xuất phát điểm từ mô hình kinh tế lượng không gian tổng quát như sau: yit = ρWyit + Xitβ + WXitθ + ai + vit (1) vit = λWvit + uit uit ~ N(0,σ2 In) Trong đó, W là ma trận trọng số không gian; Wyit:biến trễ theo không gian của biến phụ thuộc; WXit: biến trễ theo không gian của biến độc lập; Wvit: biến trễ theo không gian của sai số; hệ số ρ thể hiện sự tác động của các địa phương lân cận đến biến phụ thuộc; θ:mô tả tác động của biến độc lập ở các địa phương lân cận; λ: hệ số tự tương quan không gian, cho biết sự phụ thuộc của sai số ở quan sát này vào sai số các quan sát lân cận. Nếu θ = λ = 0 thì hệ phương trình (1) trở thành mô hình SAR; nếu ρ = θ =0 thì (1) là mô hình SEM; nếu λ = 0 thì (1) trở thành mô hình SDM; nếu θ = 0 thì (1) là mô hình SAC. Bên cạnh đó, cấu trúc của ma trận trọng số không gian �có i dòng và j cột như sau: Theo Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) thì có nhiều ma trận trọng số không gian, bao gồm: ma trận nhị phân, ma trận nghịch đảo, ma trận có k địa phương gần nhất và ma trận có hệ số chặn. Tuy nhiên, việc sử dụng các ma trận khác nhau có thể dẫn đến kết quả khác nhau của biến giải thích (Xit) nhưng tính chất trễ không gian của biến (Wyit) được bảo tồn (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Do đó, chúng tôi sử dụng ma trận nghịch đảo làm ma trận trọng số không gian trong mô hình nghiên cứu. Ma trận nghịch đảo được xác định dựa vào khoảng cách thực tế giữa hai địa phương và khoảng cách địa lý được tính dựa trên trung điểm của kinh độ và vĩ độ. Hơn nữa, ma trận nghịch đảo có thể giải thích FDI về sự gần gũi địa lý một cách hợp lý hơn ma trận nhị phân chỉ giải quyết hiệu ứng lân cận (Kayam & cộng sự, 2013). Trong nghiên cứu này biến phụ thuộc yit là FDI, các biến độc lập Xit bao gồm: quy mô thị trường (MAP), độ mở thương mại (OPT), cơ sở hạ tầng (INF), chất lượng kinh tế (INS), chất lượng lao động (HUC), mức độ quần tụ doanh nghiệp (AGG), chi phí lao động (LAC), gia tăng dân số và đô thị hóa (POG). Nguồn dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và niên giám thống kê của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2005-2016. Trong đó, biến FDI theo vốn đăng ký (USD) được đưa về giá trị 2010 theo giá tiêu dùng của Mỹ (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Dữ liệu gốc của FDI được tính bằng USD nên được chuyển về giá trị VND qua tỷ giá hối đoái do Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố để nhất quán dữ liệu. Biến MAP được xác định bằng tổng giá trị sản phẩm nội địa, biến LAC phản ánh thu nhập bình quân của người lao động trên 15 tuổi của từng tỉnh và được quy về giá trị 2010 để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. Biến OPT phản ánh tổng giá trị xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm nội địa, biến AGG được xác định qua tỷ trọng số lượng doanh nghiệp tư nhân từng năm của các tỉnh. Biến INS được trích lọc từ báo cáo chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh PCI hằng năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Biến POG được Mỗi thành tố wij phản ánh sự tương tác không gian giữa địa phương i và địa phương j. Theo Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) thì có nhiều ma trận trọng số không gian, bao gồm: ma trận nhị phân, ma trận nghịch đảo, ma trận có k địa phương gần nhất và ma trận có hệ số chặn. Tuy nhiên, việc sử dụng các ma trận khác nhau có thể dẫn đến kết quả khác nhau của biến giải thích (Xit) nhưng tính chất trễ không gian của biến (Wyit) được bảo tồn (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Do đó, chúng tôi sử dụng ma trận nghịch đảo làm ma trận trọng số không gian trong mô hình nghiên cứu. Ma trận nghịch đảo được xác định dựa vào khoảng cách thực tế giữa hai địa phương và khoảng cách địa lý được tính dựa trên trung điểm của kinh độ và vĩ độ. Hơn nữa, ma trận nghịch đảo có thể giải thích FDI về sự gần gũi địa lý một cách hợp lý hơn ma trận nhị phân chỉ giải quyết hiệu ứng lân cận (Kayam & cộng sự, 2013).

Trong nghiên cứu này biến phụ thuộc yit là FDI, các biến độc lập Xit bao gồm: quy mô thị trường (MAP), độ mở thương mại (OPT), cơ sở hạ tầng xác định bằng tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên và biến INF là khối lượng vận tải hàng hóa từng năm của các tỉnh. Tất cả các biến sau khi thu thập được lấy logarit để tránh các hiện tượng bất thường trong dữ liệu và tạo thành bảng dữ liệu có 96 quan sát giai đoạn 2005-2016.

Nguồn: tính toán của tác giả. Dữ liệu FDI tại Bảng 1 có sự biến động tương đối giữa giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và độ lệch chuẩn. Nói cách khác, có sự chênh lệch về kết quả thu hút dòng vốn FDI tại các tỉnh thành ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2005-2016. Giá trị các biến MAP, OPT, INF, INS, HUC, AGG, LAC và POG có sự chênh lệch không lớn phản ánh dữ liệu khá đều và tập trung. Điều này cho biết mức độ tương đồng về các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI của các địa phương trong mẫu nghiên cứu.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Kiểm định tương quan không gian

Nghiên cứu sử dụng kiểm định Moran’s I và kiểm định hệ số nhân tử Lagrange (LM) để xác định sự tương quan không gian trong cấu trúc dữ liệu. Mặc dù kiểm định LM thường được thực hiện riêng cho các kiểm định về ảnh hưởng sai số không gian hoặc trễ không gian, nhưng trong hồi quy không gian thì kiểm định LM có thể được sử dụng để xác định về sự tồn tại của sự phụ thuộc không gian giữa các địa phương (Elhorst, 2012). Nếu giả thuyết không có sự tương quan giữa các địa phương bị bác bỏ thì nghiên cứu áp dụng kinh tế lượng không gian trong phân tích kết quả (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017).

3.2.2. Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Từ mô hình SDM nêu trên, nếu thay θ = 0 thì SDM trở thành SAR, thay θ = -βλ thì SDM là SEM. Do đó, chúng tôi thực hiện các kiểm định θ = 0 và θ = -βλ để lựa chọn giữa SDM và SAR, SEM. Bên cạnh đó, mô hình SDM không bao hàm mô hình SAC nên nghiên cứu dựa vào tiêu chuẩn AIC (Akaike information criterion), BIC (Bayesian information criterion) để thực hiện lựa chọn giữa SDM với SAC. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng hợp lý cực đại MLE (Maximum Likelihood Estimation) theo đề xuất của Elhorst (2010a) và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa tác động cố định và tác động ngẫu nhiên để phân tích kết quả nghiên cứu.

(INF), chất lượng kinh tế (INS), chất lượng lao động (HUC), mức độ quần tụ doanh nghiệp (AGG), chi phí lao động (LAC), gia tăng dân số và đô thị hóa (POG). Nguồn dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê và niên giám thống kê của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2005-2016. Trong đó, biến FDI theo vốn đăng ký (USD) được đưa về giá trị 2010 theo giá tiêu dùng của Mỹ (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Dữ liệu gốc của FDI được tính bằng USD nên được chuyển về giá trị VND qua tỷ giá hối đoái do Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố để nhất quán dữ liệu. Biến MAP được xác định bằng tổng giá trị sản phẩm nội địa, biến LAC phản ánh thu nhập bình quân của người lao động trên 15 tuổi của từng tỉnh và được quy về giá trị 2010 để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát. Biến OPT phản ánh tổng giá trị xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm nội địa, biến AGG được xác định qua tỷ trọng số lượng doanh nghiệp tư nhân từng năm của các tỉnh. Biến INS được trích lọc từ báo cáo chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh PCI hằng năm của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Biến POG được xác định bằng tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên và biến INF là khối lượng vận tải hàng hóa từng năm của các tỉnh. Tất cả các biến sau khi thu thập được lấy logarit để tránh các hiện tượng bất thường trong dữ liệu và tạo thành bảng dữ liệu có 96 quan sát giai đoạn 2005-2016. Dữ liệu FDI tại Bảng 1 có sự biến động tương đối giữa giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và độ lệch chuẩn. Nói cách khác, có sự chênh lệch về kết quả thu hút dòng vốn FDI tại các tỉnh thành ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2005-2016. Giá trị các biến MAP, OPT, INF, INS, HUC, AGG, LAC và POG có sự chênh lệch không lớn phản ánh dữ liệu khá đều và tập trung. Điều này cho biết mức độ tương đồng về các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI của các địa phương trong mẫu nghiên cứu.

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Kiểm định tương quan không gian

Nghiên cứu sử dụng kiểm định Moran’s I và kiểm định hệ số nhân tử Lagrange (LM) để xác định sự tương quan không gian trong cấu trúc dữ liệu. Mặc dù kiểm định LM thường được thực hiện riêng cho các kiểm định về ảnh hưởng sai số không gian hoặc trễ không gian, nhưng trong hồi quy không gian thì kiểm định LM có thể được sử dụng để xác định về sự tồn tại của sự phụ thuộc không gian giữa các địa phương (Elhorst, 2012). Nếu giả thuyết không có sự tương quan giữa các địa phương bị bác bỏ thì nghiên cứu áp dụng kinh tế lượng không gian trong phân tích kết quả (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017).

3.2.2. Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Từ mô hình SDM nêu trên, nếu thay θ = 0 thì SDM trở thành SAR, thay θ = -βλ thì SDM là SEM. Do đó, chúng tôi thực hiện các kiểm định θ = 0 và θ = -βλ để lựa chọn giữa SDM và SAR, SEM. Bên cạnh đó, mô hình SDM không bao hàm mô hình SAC nên nghiên cứu dựa vào tiêu chuẩn AIC (Akaike information criterion), BIC (Bayesian information criterion) để thực hiện lựa chọn giữa SDM với SAC. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng hợp lý cực đại MLE (Maximum Likelihood Estimation) theo đề xuất của Elhorst (2010a) và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa tác động cố định và tác động ngẫu nhiên để phân tích kết quả nghiên cứu.

Theo Elhorst (2012) thì sử dụng các ước lượng điểm để kiểm tra về sự tồn tại tương tác không gian trong hồi quy sẽ bị chệch và không phù hợp. Điều này xuất phát từ sự thay đổi biến giải thích của một địa phương không chỉ do chính địa phương gây ra mà còn do các địa phương lân cận. Như vậy, có sự tồn tại về tác động trực tiếp và gián tiếp trong hồi quy không gian. Quá trình xác định tác động trực tiếp, gián tiếp của mô hình SDM dạng ma trận như sau:

Y = ρWy + Xβ + WXθ + a + u (2) Từ (2) suy ra: Y = (I - ρW)-1 (Xβ + WXθ) + (I - ρW)-1 a + (IρW)-1 u (3) Elhorst (2010b) cho rằng ma trận đạo hàm riêng của y đối với biến giải thích Xk từ địa phương thứ 1 đến địa phương thứ N như sau:

Theo Elhorst (2012) thì sử dụng các ước lượng điểm để kiểm tra về sự tồn tại tương tác không gian trong hồi quy sẽ bị chệch và không phù hợp. Điều này xuất phát từ sự thay đổi biến giải thích của một địa phương không chỉ do chính địa phương gây ra mà còn do các địa phương lân cận. Như vậy, có sự tồn tại về tác động trực tiếp và gián tiếp trong hồi quy không gian. Quá trình xác định tác động trực tiếp, gián tiếp của mô hình SDM dạng ma trận như sau:

Y = ρWy + Xβ + WXθ + a + u (2) Từ (2) suy ra:

Y = (I - ρW)-1 (Xβ + WXθ) + (I - ρW)-1 a + (I-ρW)-1 u (3) Elhorst (2010b) cho rằng ma trận đạo hàm riêng của y đối với biến giải thích Xk từ địa phương thứ 1 đến địa phương thứ N như sau:

Như vậy, có sự tồn tại về tương tác không gian giữa các địa phương ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong thu hút FDI giai đoạn 2005-2016. Theo Elhorst (2003) thì mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) sẽ không phù hợp khi xuất hiện ảnh hưởng không gian trong các quan sát. Hơn nữa, nếu một Trong đó, wij là thành tố của ma trận trọng số W. Tác động trực tiếp là đường chéo chính và tác động gián tiếp sẽ là dòng hoặc cột của ma trận (4) (Elhorst, 2010b).

4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1. Kết quả kiểm định tương quan không gian

Kết quả kiểm định tương quan không gian về dòng vốn FDI giai đoạn 2005-2016 ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được trình bày tóm tắt tại Bảng 2. Kết quả kiểm định Moran’s I cho biến FDI vào các năm 2005, 2009, 2013 và 2016 đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và kiểm định LM có ý nghĩa ở mức 10%, 5% vào các năm 2013, 2016. Như vậy, có sự tồn tại về tương tác không gian giữa các địa phương ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong thu hút FDI giai đoạn 2005-2016. Theo Elhorst (2003) thì mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) sẽ không phù hợp khi xuất hiện ảnh hưởng không gian trong các quan sát. Hơn nữa, nếu một quan sát bị tương tác không gian, thì nên áp dụng kinh tế lượng không gian phân tích kết quả nghiên cứu (Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan, 2017). Do đó, mô hình nghiên cứu của bài viết tiếp cận theo kinh tế lượng không gian để phân tích các yếu tố tác động đến thu hút FDI.

4.2. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu

Bảng 3 mô tả kết quả ước lượng các mô hình hồi quy không gian được sử dụng trong nghiên cứu gồm có: SAR, SEM, SDM và SAC.

Từ tiêu chuẩn AIC, BIC ở Bảng 3 cho thấy mô hình SDM theo tác động cố định phù hợp về cấu trúc dữ liệu hơn các mô hình SAC, SAR và SEM. Điều này trùng khớp với kết quả kiểm định Hausman và kiểm định lựa chọn giữa SAR, SEM với SDM tại mức ý nghĩa 1%. Bên cạnh đó, chỉ số Rho = - 9,4663 có ý nghĩa thống kê tại mức 5% đã phản ánh sự tồn tại về tương tác giữa các địa phương trong việc tiếp nhận dòng vốn FDI. Trong đó, các địa phương lân cận nhau có xu hướng cạnh tranh lẫn nhau (Rho < 0) trong thu hút đầu tư quốc tế. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Hoang & Goujon (2014), Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) về đặc điểm cạnh tranh trong thu hút FDI của các địa phương tại Việt Nam.

4.3. Kết quả nghiên cứu

Từ kết quả lựa chọn mô hình SDM ở Bảng 3, kết quả phân tích tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng tác động được trình bày tại Bảng 4.

 a) Tác động trực tiếp

Tác động trực tiếp phản ánh các yếu tố tại một địa phương ảnh hưởng đến thu hút FDI chính địa phương tiếp nhận. Theo đó, FDI vào một địa phương sẽ phụ thuộc vào độ mở thương mại của địa phương ở mức ý nghĩa 5%. Điều này trùng khớp với các nghiên cứu của Blanc-Brude & cộng sự (2014), Esiyok & Ugur (2015) về một địa phương có tương tác quốc tế cao thì thuận lợi cho FDI hướng về xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc thu hút FDI của mỗi địa phương chịu tác động của chất lượng kinh tế tại địa phương ở mức ý nghĩa 5%. Sự tập trung doanh nghiệp có tác động tích cực và chi phí lao động có ảnh hưởng tiêu cực đến FDI của mỗi tỉnh tại mức ý nghĩa 5%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) về các tác động ngoại tác tích cực từ việc tập trung doanh nghiệp và ảnh hưởng của chi phí sản xuất đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng thống kê khẳng định quy mô thị trường, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng và gia tăng dân số có tác động trực tiếp đến FDI của mỗi địa phương. Như vậy, kết quả nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu của Nguyen (2015) về cơ sở hạ tầng và lực lượng lao động không có tác động đến thu hút FDI ở 13 tỉnh khu vực miền Nam. Điều này phản ánh các thông điệp về dòng vốn FDI vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam theo động cơ chiều dọc, chiều dọc phức và xuất khẩu. Tại đó, các FDI lựa chọn địa điểm đầu Theo Elhorst (2012) thì sử dụng các ước lượng điểm để kiểm tra về sự tồn tại tương tác không gian trong hồi quy sẽ bị chệch và không phù hợp. Điều này xuất phát từ sự thay đổi biến giải thích của một địa phương không chỉ do chính địa phương gây ra mà còn do các địa phương lân cận. Như vậy, có sự tồn tại về tác động trực tiếp và gián tiếp trong hồi quy không gian. Quá trình xác định tác động trực tiếp, gián tiếp của mô hình SDM dạng ma trận như sau:

Y = ρWy + Xβ + WXθ + a + u (2) Từ (2) suy ra: Y = (I - ρW)-1 (Xβ + WXθ) + (I - ρW)-1 a + (I-ρW)-1 u (3) Elhorst (2010b) cho rằng ma trận đạo hàm riêng của y đối với biến giải thích Xk từ địa phương thứ 1 đến địa phương thứ N như sau:

Như vậy, có sự tồn tại về tương tác không gian giữa các địa phương ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong thu hút FDI giai đoạn 2005-2016. Theo Elhorst (2003) thì mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) sẽ không phù hợp khi xuất hiện ảnh hưởng không gian trong các quan sát. Hơn nữa, nếu một Số 257 tháng 11

2018 8 tư nhằm tối thiểu hóa chi phí trong một công đoạn chế tác hàng hóa ở nhiều quốc gia khác nhau và sản phẩm hoàn chỉnh không được tiêu thụ tại Việt Nam.

b) Tác động gián tiếp

Tác động gián tiếp mô tả tác động của một yếu tố tại một địa phương đến thu hút vốn FDI của các địa phương lân cận. Kết quả cho thấy quy mô thị trường và mức độ tập trung doanh nghiệp của một địa phương có ảnh hưởng tích cực đến địa phương hàng xóm tại mức ý nghĩa 1%, 5%. Kết quả này trùng khớp với nghiên cứu của Hoang & Goujon (2014), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) và lý thuyết về động cơ FDI theo chiều dọc phức. Hơn nữa, độ mở thương mại và gia tăng dân số của một địa phương tác động tiêu cực đến việc thu hút FDI của địa phương khác tại mức ý nghĩa 1%, 5%. Như vậy, mức độ cởi mở và tương tác với thế giới bên ngoài của một địa phương sẽ hạn chế khả năng thu hút dòng vốn FDI lân cận. Nói cách khác, vấn đề ngoại thương có tính cạnh tranh giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đồng thời, sự phát triển dân số khác nhau giữa các địa phương có thể dẫn đến các hành vi cạnh tranh về cung cấp nguồn lao động cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Nói chung, các kết quả nêu trên phù hợp với nghiên cứu của Boubacar (2016) và lý thuyết FDI động cơ xuất khẩu và thương mại vùng. Trong đó, các công ty quốc tế đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đặt cơ sở sản xuất tại một địa phương để tận dụng các yếu tố về chi phí sản xuất nhưng bán ở các địa phương khác và xuất khẩu. c) Tổng tác động

Tổng tác động phản ánh sự thay đổi của một yếu tố trong một địa phương sẽ tác động đến chính địa phương tiếp nhận đầu tư và các địa phương lân cận. Bảng 4 cho thấy quy mô thị trường, mức độ quần tụ doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI toàn vùng tại mức ý nghĩa 5%, 1% và trùng khớp với nghiên cứu của Gamboa (2012), Kayam & cộng sự (2013), Hoang & Goujon (2014), Blanc-Brude & cộng sự (2014), Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017), Fonseca & Llamosas-Rosas (2018). Đồng thời, độ mở thương mại và chất lượng kinh tế tác động đến FDI toàn Như vậy, kết quả nghiên

cứu không chỉ phản ánh các yếu tố trên có tác động tích cực đến FDI toàn vùng mà còn phù hợp với các nghiên cứu của Ledyaeva (2009), Blanc-Brude & cộng sự (2014) và Esiyok & Ugur (2015). Hơn nữa, gia tăng dân số có tác động tiêu cực đến toàn vùng tại ý nghĩa 1% cho biết việc gia tăng dân số không chỉ gián tiếp làm suy giảm dòng vốn FDI các tỉnh lân cận mà còn hạn chế vốn FDI vào toàn khu vực. Điều này vừa phản ánh FDI vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam không chỉ có động cơ theo chiều dọc phức và xuất khẩu mà còn trùng khớp với nghiên cứu của Boubacar (2016), Peres & cộng sự (2018) về vốn FDI ở các nước đang phát triển. Theo đó, gia tăng dân số không chỉ là hiện tượng xã hội ghi nhận tỷ lệ gia tăng dân số đô thị mà còn phản ánh sự thay đổi phương thức khai thác, sử dụng các nguồn lực. Việc gia tăng dân số tạo ra đô thị hóa trên nền tảng cấu trúc kinh tế không thay đổi sẽ tạo ra hiện tượng “đô thị hóa giả” ở các đô thị (Peres & cộng sự, 2018). Điều này sẽ kéo giảm các nguồn vốn FDI, nhất là các FDI có động cơ theo chiều dọc phức, xuất khẩu không chú trọng nhiều vào quy mô tiêu thụ tại địa phương.

5. Kết luận

Bài viết đã phát hiện sự tương tác không gian theo xu hướng cạnh tranh nhau trong khâu thu hút dòng vốn FDI quốc tế của các tỉnh, thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nói cách khác, vốn FDI không chỉ phụ thuộc vào địa phương tiếp nhận mà còn phụ thuộc vào các địa phương khác. Như vậy, yếu tố tác động đến FDI vào các địa phương vượt qua các giới hạn địa giới hành chính và có tính chất chi phối toàn vùng. Trong đó, các yếu tố như độ mở thương mại, chất lượng kinh tế và thể chế, chi phí lao động và mức độ tập trung doanh nghiệp vừa có tác động trực tiếp đến địa phương tiếp nhận đầu tư, vừa có tác động gián tiếp đến các địa phương lân cận. Hơn nữa, các FDI đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có xu hướng khai thác yếu tố sản xuất theo chiều dọc phức và xuất khẩu hơn FDI chiều ngang để khai thác thị trường. Ngoài ra, các kết quả tìm được cho thấy các địa phương trong vùng có thể phối hợp khai thác quy mô thị trường, cùng nhau xử lý vấn đề dân số, hợp tác thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và tích cực xây dựng các khu công nghiệp tập trung để gia tăng khả năng thu hút FDI. Bên cạnh đó, các địa phương của vùng nên phối hợp chặt chẽ trong khâu cải tiến hoạt động thương mại và tương tác quốc tế, cùng nhau xây dựng và hoàn thiện thể chế, hoàn thiện chất lượng nền kinh tế để khai thác tốt dòng vốn FDI, nhất là các FDI theo chiều dọc phức và xuất khẩu. Điều này không chỉ phù hợp với chủ trương đẩy mạnh hợp tác kinh tế vùng của Chính phủ mà còn tăng cường sức mạnh chung, tăng cường khả năng liên kết của các địa phương trong quá trình phát triển kinh tế.

Từ tiêu chuẩn AIC, BIC ở Bảng 3 cho thấy mô hình SDM theo tác động cố định phù hợp về cấu trúc dữ liệu hơn các mô hình SAC, SAR và SEM. Điều này trùng khớp với kết quả kiểm định Hausman và kiểm định lựa chọn giữa SAR, SEM với SDM tại mức ý nghĩa 1%. Bên cạnh đó, chỉ số Rho = - 9,4663 có ý nghĩa thống kê tại mức 5% đã phản ánh sự tồn tại về tương tác giữa các địa phương trong việc tiếp nhận dòng vốn FDI. Trong đó, các địa phương lân cận nhau có xu hướng cạnh tranh lẫn nhau (Rho < 0) trong thu hút đầu tư quốc tế. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Hoang & Goujon (2014), Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) về đặc điểm cạnh tranh trong thu hút FDI của các địa phương tại Việt Nam.

Điều này trùng khớp với các nghiên cứu của Blanc-Brude & cộng sự (2014), Esiyok & Ugur (2015) về một địa phương có tương tác quốc tế cao thì thuận lợi cho FDI hướng về xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc thu hút FDI của mỗi địa phương chịu tác động của chất lượng kinh tế tại địa phương ở mức ý nghĩa 5%. Sự tập trung doanh nghiệp có tác động tích cực và chi phí lao động có ảnh hưởng tiêu cực đến FDI của mỗi tỉnh tại mức ý nghĩa 5%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Esiyok & Ugur (2015), Lê Văn Thắng & Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017) về các tác động ngoại tác tích cực từ việc tập trung doanh nghiệp và ảnh hưởng của chi phí sản xuất đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng thống kê khẳng định quy mô thị trường, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng và gia tăng dân số có tác động trực tiếp.

Tài liệu tham khảo:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DÒNG VỐN FDI Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM
Huỳnh Thế Nguyễn
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018

Mã giảm giá + Top123.vn

Biểu mẫu liên hệ

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.