Trang chia sẽ: "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo
Top VN - "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo

Danh mục: "Nghiên cứu Pháp luật xã hội"

Bài học Kinh doanh Bán hàng Online Cần làm gì Chuyên đề Chuyện tình cảm Chuyện vợ chồng Cơ hội Kinh doanh Có nên làm Có nên mua Đắc nhân tâm Dạy con làm giàu Dạy làm giàu Dạy làm người Đề thi - Đáp án Đề thi Địa lý Đề thi Lớp 1 Đề thi Lớp 10 Đề thi Lớp 12 Đề thi Lớp 2 Đề thi Lớp 5 Đề thi Lớp 6 Đề thi Lớp 9 Đề thi tham khảo Đề thi THPT Quốc gia Đề thi Tin học Đề thi Toán học Đề thi trắc nghiệm Đề thi Tuyển sinh Dị ứng Điểm chuẩn ĐH Điện thoại Download tạp chí kinh tế phát triển English Hàng xách tay Học làm giàu Hoc sinh cấp 3 Hoc sinh lớp 1 Hoc sinh lớp 10 Hoc sinh lớp 12 Hoc sinh lớp 2 Hoc sinh lớp 5 Khoa hoc Khuyến mãi của Adayroi Khuyến mãi của Sendo Khuyến mãi hôm nay Kiếm tiền Kinh doanh Kinh doanh Online Kinh tế Luận án Tiến sĩ Luận án Tiến sĩ Kinh tế Luận văn - Báo cáo Luận văn Thạc sĩ Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Mã giảm giá Mã giảm giá Adayroi Mã giảm giá Lazada Mã giảm giá Sendo Mã giảm giá Shopee Mã giảm giá túi balo Mã giảm giá vali Ma-giam-gia Môn Tiếng Anh Môn Tiếng Trung Môn Tin học Môn Toán Năm học 2018 Năm học 2019 Năm học 2020 Nên làm gì Nghiên cứu Kinh doanh Nghiên cứu Pháp luật xã hội Ngoại tình Người yêu củ Phụ nữ Quấy rối Sách Sách English Sách hay nhất Sách Lớp 2 Sách Lớp 5 Sách Lớp 9 Sách tâm lý Sách Tiếng Anh Sách Tin học Sản phẩm khuyến mãi Sau đại học Sức khỏe Tài liệu Cơ học kỹ thuật Tài liệu Kinh tế Tài liệu Kỹ thuật Tài liệu Kỹ thuật Cầu đường Tài liệu Kỹ thuật Ceramic Tài liệu Kỹ thuật Chế tạo Tài liệu Kỹ thuật Cơ điện tử Tài liệu Kỹ thuật Cơ khí Tài liệu Kỹ thuật Công trình biển Tài liệu Kỹ thuật Dầu khí Tài liệu Kỹ thuật Dệt may Tài liệu Kỹ thuật Điện tử Tài liệu Kỹ thuật Điều khiển tự động Tài liệu Kỹ thuật Hạ tầng cơ sở Tài liệu Kỹ thuật Hàng không Tài liệu Kỹ thuật Hạt nhân Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống công nghiệp Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống truyền thông Tài liệu Kỹ thuật Khai thác thủy sản Tài liệu Kỹ thuật Luyện kim Tài liệu Kỹ thuật máy tính Tài liệu Kỹ thuật Sinh học Tài liệu Kỹ thuật Viễn thông Tài liệu miễn phí Tài liệu tham khảo Tài liệu Tiếng Anh Tài liệu Toán Tài liệu Vật lý Tạp chí kinh tế Tiền bạc Tiếng Anh Tiếng Hoa Tiếng Trung Quốc Tìm việc làm Tin học Tin tức công nghệ Tư vấn review Tuyển sinh Cao đẳng Tuyển sinh Đại học Tuyển sinh Đại học 2019 Tuyển sinh Trung cấp
Showing posts with label Nghiên cứu Pháp luật xã hội. Show all posts

Nghiên cứu: Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công

Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công
Improving Public Administration Service Quality in Vietnam from Marketing Perspective Abstract:

Public administration service is a vital service of any country. Public administration service quality is directly related to the socio-economic development of the country. Early recognizing the importance of this issue, the Government of Vietnam in the tenure of 2016-2021 has introduced the doctrine of “building a Government for development creation, integrity, taking drastic action, serving people and businesses”. Such a government is closely related to public administration service quality provided by that government. In fact, for a long time, the Party and State have been aware of this issue. Previous governments of Vietnam have carried out much renovation and reformed administrative procedures, but the progress was not as expected. At the present time, to be able to make the above doctrine come true, the Prime Minister has set up a working group chaired by the Head of the Government Office to regularly inspect and urge the ministries, local authorities to “simplify” administrative procedures, but a government “for development creation, integrity, taking drastic action, serving” still does not appear. What should be done to really improve public administration service quality in Vietnam today? Based on the review of existing proposals and the assessment of current status of public administration service quality in Vietnam today, this paper will focus on a new approach – from market perspective – to get access to the nature of public administration service in the context of the society led and ruled by one communist party to establish market economy institutions. This helps increase scientific justification for the determination to implement existing solutions and possibly suggest more effective, better solutions for the provision of public administration service in Vietnam today.
Keywords: Public administration service, Marketing perspective, Solutions

1. Đặt vấn đề

Dịch vụ hành chính công là một dịch vụ mà chủ thể là chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương của một quốc gia cung cấp cho xã hội để thực hiện những điều liên quan đến thể chế đã được Hiến pháp và các Bộ luật của quốc gia đó quy định. Do đó, dịch vụ hành chính công là một bộ phận cấu thành tối quan trọng của thể chế phát triển của quốc gia đó. Việt Nam theo đuổi thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được trên 30 năm.

Trong suốt chặng đường đó, đã không ít lần Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra chủ trương cải cách nền hành chính công, nhưng cho đến nay nền hành chính công ở Việt Nam vẫn chậm đổi mới và chưa đáp ứng tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có lúc, có nơi, có lĩnh vực thủ tục hành chính vẫn như một cái “ách” và trở thành một trong những rào cản nặng nề nhất cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Minh chứng cho nhận định này, trong một phiên họp chuyên đề của Chính phủ về xây dựng pháp luật, ngày 22/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phải nhận xét: “Với quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp”, nhưng ông “Chưa hài lòng về công việc này trong thời gian qua…” điều đặc biệt là, “trong khi Chính phủ đang thực hiện cải cách hành chính rất mạnh mẽ, thì có luật đưa ra lại “đẻ” thêm thủ tục, quyền hạn cho bộ mình, ngành mình, buộc các bộ, ngành khác “phải qua mình” nên thủ tục chồng lên chất nhiều” (Linh Tâm, 2017a). Để thực hiện cho bằng được công việc này “Chính phủ kêu gọi các bộ, ngành, địa phương từ bỏ quyền lực để rộng đường cho doanh nghiệp phát triển”. Vì theo như Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho rằng: “Có dám từ bỏ quyền lực vì doanh nghiệp, có chống được lợi ích nhóm, thì mới có thể xây dựng thành công Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đó là con đường chỉ được phép tiến, lùi là thất bại. Vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xuất hiện ngay từ khi xây dựng thể chế…” (Đoàn Trần, 2018a). Quyết tâm đó của Chính phủ đã được sự đồng thuận và bảo trợ cao của lãnh đạo Đảng. Tại các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Đảng đã chia sẻ “không chỉ đánh tham nhũng lớn, mà còn tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham nhũng vặt vì đi làm gì cũng phải phong bao, phong bì, lót tay, gợi ý. Tham nhũng vặt như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu, chứ không phải chỉ có tham nhũng lớn”. Như vậy Đảng và Chính phủ có quyết tâm chính trị rất cao về việc xây dựng một nền hành chính công hiệu quả và văn minh. Nhưng thực tế vẫn còn nhiều việc không mong muốn vẫn xuất hiện và dai dẳng tồn tại. Bộ trưởng Văn phòng Chính đã nhận xét “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/ năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…Nếu cứ như vậy thì các doanh nghiệp của chúng ta làm sao cạnh tranh được với DN các nước?” (Đoàn Trần, 2018a).  Theo ông, ở một số lĩnh vực vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu và chi phí không chính thức, thủ tục hành chính mặc dù đã được cải cách nhưng vẫn còn nhiều “cửa”, nhiều “khóa”; cắt giảm nhiều thủ tục chưa đạt như mong muốn” (Đoàn Trần, 2018b). Có thể nói, những phát biểu trên của các cấp lãnh đạo Chính phủ đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về nền hành chính công của Việt Nam hiện nay. Một nền hành chính công yếu kém như thế làm sao Việt Nam có được một thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy vì sao việc cải cách nền hành chính công của Việt Nam rất trì trệ, làm gì nữa và làm như thế nào để có một bước đột phá thực chất trong việc xây dựng một nền hành chính công và kèm theo đó là cung cấp các dịch vụ hành chính công (không bàn đến dịch vụ công, nói chung) của Việt Nam theo mong đợi của người dân và doanh nghiệp, để lời hứa về một Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và phục vụ” trở thành hiện thực, để một “nhà nước của dân, do dân và vì dân” không còn chỉ là một khẩu hiệu.? Đó là câu hỏi lớn mà bài viết này muốn hướng đến góp phần giải đáp dưới góc nhìn của khoa học marketing.

2. Tổng quan kinh nghiệm của một số nước có hoàn cảnh tương đồng như Việt Nam và các công trình nghiên cứu

Đặc trưng nổi bật nhất chi phối đến nền hành chính công của Việt Nam theo tác giả là nền hành chính ấy chịu sự chi phối duy nhất của một đảng cầm quyền và lãnh đạo. Trên thế giới hiện nay đang tồn tại một loạt quốc gia có bối cảnh tương đồng như Việt Nam, chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo đất nước như: Cuba, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (về mặt pháp lý có 8 đảng tham gia chính trị), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Việt Nam, Syria, Ertrea, Turkmenistan, Sahrawi Arab Democratic Republic, Iran, Singapore (hơn 90% số ghế trong Quốc hội đơn viện thuộc về Đảng Nhân dân Hành động). Một số quốc gia khác có hệ thống đa đảng, nhưng chỉ có một đảng nắm vai trò then chốt trong thời gian dài nên cũng có thể xem như đơn đảng, đó là: Singapore, Nga, Campuchia, Cameroon, Gabon, Tanzania…Từ đây, có thể thấy trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các quốc gia do một đảng duy nhất lãnh đạo, không lựa chọn phát triển theo mô hình kinh tế thị trường đã từng xuất hiện và tồn tại khá nhiều, nhưng có thể khẳng định, chưa có một quốc gia nào thực sự thành công, theo nghĩa thuộc quốc gia phát triển. Các quốc gia đứng trong tốp các quốc gia phát triển hiện nay chủ yếu đều thuộc các quốc gia có nhiều đảng thay nhau tranh cử và lãnh đạo theo mô hình kinh tế thị trường. Các quốc gia phát triển theo mô hình kinh tế thị trường và duy nhất chỉ có một đảng giữ vai trò lãnh đạo và chi phối nền hành chính quốc gia có sự thành công lại không nhiều. Trong số này, cho đến nay mới thấy có Singapore và Trung Quốc (đang nổi lên). Có thể nói, sự thành công trong xây dựng và phát triển của đất nước Singapore dưới sự lãnh đạo lâu dài và giữ vị trí thống trị của một đảng – Đảng Nhân dân Hành động với sự phát triển kinh tế có tốc độ cao liên tục, làm tăng nhanh chóng “quốc lực tổng hợp” và nhảy lên vị trí thứ hai trên thế giới về tổng thu nhập quốc dân, chỉ sau Mỹ. Trung Quốc trong hàng chục năm qua cũng là bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam, đặc biệt là tình huống Singapore trong tiến trình xây dựng và cải cách nền hành chính công..

Bài học có thể rút ra từ tình huống Singapore chính là việc có một đảng mạnh lãnh đạo và một chính phủ quyết đoán, hành động, trong sạch, kiến tạo, phục vụ và thực tài. Tài năng ấy của Đảng cầm quyền và Chính phủ Singapore được thể hiện bằng lòng trung thành và niềm tin của dân chúng với dịch vụ hành chính công mà Chính phủ Singapore cung ứng thông qua tỷ lệ phiếu lựa chọn đảng lãnh đạo đất nước trong mỗi lần bầu cử. Từ sau ngày đất nước độc lập, đưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Hành động, mà hạt nhân là cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, đất nước Singapore luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (ngoại trừ năm 1985 tốc độ tăng trưởng kinh tế âm, năm 1986 chỉ tăng 1,9%). Cho đến nay mức thu nhập quốc dân (GDP) bình quân đầu người của Singapore xếp thứ tư trên thế giới, đạt 90.249USD

người. Hoặc như Trung Quốc, sau gần 40 năm “cải cách, mở cửa” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, với hạt nhân là Chủ tịch Tập Cận Bình đã thúc đẩy Trung Quốc vươn lên vị trí thách thức “siêu cường” của Mỹ. Tuy nhiên, tại Trung Quốc Đảng Cộng sản cũng đã tìm thấy một trong những yếu tố cản trở nhất tới uy tín lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc và còn thiếu so với Đảng Nhân dân Hành động của Singapore là nạn tham nhũng tràn lan. Để loại bỏ yếu tố đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang tiến hành chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” nhằm làm tăng uy tín và vị thế lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc không chỉ ở trong nước mà cả trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc Chính phủ Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 đưa ra chủ thuyết xây dựng một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” với quyết tâm cao trong phòng chống tham nhũng cũng như chấn chỉnh và cải tổ bộ máy là rất trúng và kế thừa được bài học kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc. Điều này cũng được thể hiện qua ý chí của người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó, những động thái liên tục kiểm tra giám sát “cương lĩnh hành động” của Chính phủ Việt Nam cho thấy Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đánh giá cao và nhận thức trúng về tầm quan trọng của việc đổi mới một cách nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đương nhiệm của Việt Nam đã tập trung cao độ trong việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công gắn liền với cải cách bộ máy, tinh giản biên chế và xây dựng con người trong việc thực thi pháp luật về cung ứng dịch vụ hành chính công.

Trên phương diện khoa học cho thấy, tại Việt Nam đã có nhiều đề án, nhiều công trình khoa học thuộc đề tài nghiên cứu các cấp, một số sách và bài viết đề cập đến lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Những công trình, bài viết đó, hoặc đề cập đến đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc đề cập đến nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc chuyên về đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam theo các góc nhìn khác nhau của các khoa học chuyên ngành cụ thể. Trên cơ sở đó, các công trình, đề tài, bài viết đề xuất nhiều sáng kiến, nhiều giải pháp rất đáng lưu tâm. Liên quan đến chủ đề này có thể kể đến các công trình như: “Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra” (http://www.kdtqt.duytan.edu. vn); “Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (text.xemtailieu.com); Trần Kim Cúc (2010), Vũ Trí Dũng (2014), nghiên cứu “Cải cách hành chính công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thâm (Học viện Hành chính Quốc gia). Dưới đây xin đề cập tới một số công trình, bài viết điển hình liên quan tới chủ đề này.

Nguyễn Văn Đồng (2017) đã phân tích, luận giả vấn đề xoay quanh dịch vụ hành chính công, làm rõ thực trạng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống các khái niệm có giá trị tham khảo tốt. Về khái niệm dịch vụ công bài viết cho rằng: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng”. Trong bài viết này, tác giả cũng phân chia dịch vụ công thành 3 loại, bao gồm: Dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ công trong lĩnh vực công ích và dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính nhà nước hay còn gọi là dịch vụ hành chính công. Từ đó tác giả đưa ra khái niệm dịch vụ hành chính công như sau: “Dịch vụ hành chính công là một loại dịch vụ công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân”. Nói cách khác, dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của Nhà nước”. Dịch vụ hành chính công là một hợp phần nằm trong “nền hành chính nhà nước” với bốn yếu tố cấu thành: hệ thống thể chế nhà nước, hệ thống tổ chức hành chính nhà nước, nhân sự trong bộ máy hành chính nhà nước, các nguồn lực vật chất cần thiết cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong bài viết này tác giả cũng liệt kê các dịch vụ hành chính công điển hình như: các hoạt động cấp các loại giấy phép; các hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực; các hoạt động cấp giấy đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề; hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính.

Cuốn sách “ Marketing dịch vụ công” của Vũ Trí Dũng (2014) đã đề cập khá toàn diện về marketing dịch vụ công. Tác giả đi từ khái niệm dịch vụ công, các cách phân loại dịch vụ công, đặc điểm marketing dịch vụ công, môi trường marketing dịch vụ công, chiến lược phát triển của tổ chức dịch vụ công, nghiên cứu thị trường dịch vụ công và các công cụ marketing-mix của dịch vụ công. Tuy nhiên, do cuốn sách tập trung vào dịch vụ công với cấu phần là tổ hợp các dịch vụ công rất khác nhau, nên không thấy rõ được đặc trưng của thị trường và cung ứng từng loại dịch vụ công và do đó cũng không làm rõ được tính đặc thù của marketing từng loại dịch vụ công. Với cách tiếp cận khái quát như vậy đã làm giảm đi triển vọng ứng dụng marketing đòi hỏi tính đặc thù cho từng loại dịch vụ công rất nhiều Còn nhiều đề tài và nghiên cứu khác nữa tiếp cận đến các góc độ khác nhau của dịch vụ hành chính công ở Việt Nam như đã chỉ ra ở trên, phục vụ cho các mức độ quyết sách khác nhau của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong cung ứng dịch vụ hành chính công cho dân chúng. Song chưa có một công trình, bài viết nào khám phá sâu vào bản chất, đặc trưng của marketing dịch vụ hành chính công, nên nền hành chính công ở Việt Nam, nhìn chung vẫn chưa thoát thai ra khỏi tư duy hành chính quan liêu, chưa theo kịp và chưa đáp ứng tốt cho công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế của đất nước. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đâu, bằng cách nào để tháo gỡ? Bài viết này sẽ đề cập hai khía cạnh: (i) Xem xét đặc điểm cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và, (ii) Đưa ra các kiến nghị tháo gỡ cho thực trạng trên từ góc nhìn marketing dịch vụ.

3. Đặc điểm của việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và nguyên nhân sâu xa của những bất cập

Như chúng ta đã biết marketing ra đời trong bối cảnh có cạnh tranh. Cạnh tranh đã buộc các chủ thể cung ứng hàng hóa và dịch vụ phải tìm ra bí quyết để “lôi kéo” khách hàng. Các chủ thể cung ứng dịch vụ muốn khách hàng bỏ tiền ra để mua hàng hóa dịch vụ do mình cung ứng thì họ phải tìm cách “thỏa mãn khách hàng một cách ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh” thông qua triết lý và tổ hợp marketing-mix (marketing hỗn hợp). Nếu chỉ có một chủ thể duy nhất cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho xã hội thì loại hàng hóa và dịch vụ đó là hàng hóa dịch vụ độc quyền. Đối với hàng hóa, dịch vụ độc quyền thì chủ thể cung ứng không cần phải có bất kỳ sự “cạnh tranh” nào nhưng “khách hàng” vẫn phải mua. Không có cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền. Độc quyền gắn liền với trì trệ. Đây là hai vế song trùng của bất kỳ hiện tượng kinh tế - xã hội nào. Hiện tượng này kéo lùi sự phát triển. Nhận thức được tính tất yếu này tất cả các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển phải tìm cách phá thế độc quyền bằng cách ban hành Luật chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh. Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công các quốc gia này thường chấp nhận đa đảng. Khi đó các đảng phái chính trị muốn dành được dân chúng bỏ lá phiếu (thay cho bỏ tiền để mua như hàng hóa thông thường) “mua” dịch vụ hành chính công của đảng mình thì tự đảng đó phải cạnh tranh với đảng khác trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công sao cho thỏa mãn tốt nhất mong đợi của dân chúng.

Như đã khẳng định ở trên, đặc điểm nổi bật của lãnh đạo công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay là chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo và cầm quyền. Nền hành chính công của Việt Nam bị chi phối rất lớn bởi đặc điểm này. Do đó, có thể khẳng định, nền hành chính công của Việt Nam là một dịch vụ độc quyền. Nhưng do lịch sử để lại Việt Nam không thể khác được. Theo chúng tôi, do đặc điểm cốt lõi này mà mặc dù đã qua nhiều cuộc cải cách nhưng việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam đã từng mang đậm dấu ấn của tư duy và cách thức cung cấp dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền theo kiểu của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung - quan liêu, theo cơ chế “xincho”, “ ban phát”. Do đặc điểm này mà việc chuyển đổi một cách căn bản toàn diện hệ thống hành chính quan liêu sang hệ thống hảnh chính kiến tạo và phục vụ nhằm đảm bảo tính tương đồng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ hành chính công theo mô hình cạnh tranh của kinh tế thị trường trở nên cực kỳ khó khăn. Chính vì điều này, nên nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay mang đậm dấu ấn của một nền hành chính “thoái marketing”. Để góp phần cải thiện tình trạng “trì trệ” trong công cuộc cải cách nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay, cần phải có góc nhìn và xử lý theo tư duy và triết lý marketing. Chỉ có xuất phát từ góc độ đó mới làm rõ luận cứ khoa học và sự kiên quyết trong thực thi những giải pháp mà Chính phủ đang tiến hành. Và đây chính là “khoảng trống” mà chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách thấu đáo xuất phát từ cái chốt của vấn đề.

Nếu không phá thế độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay, thì tất yếu sẽ hình thành “nhóm lợi ích”, tham nhũng, quan liêu và trì trệ, thường bị các chủ thể hoặc nhân danh chủ thể cung ứng dịch vụ khai thác gây tổn hại cho lợi ích của những người thụ hưởng – khách hàng của dịch vụ hành chính công là dân chúng và doanh nghiệp. Ở hầu hết các quốc gia đi theo mô hình kinh tế thị trường thành công thì đồng thời họ phải tuân thủ trong việc xây dựng một nền tảng cho sự tồn tại của cơ chế vận hành marketing không chỉ trong đời sống kinh tế mà phải cả trong đời sống chính trị. Một quốc gia như thế sẽ làm cho thể chế kinh tế và thể chế chính trị vận động thuận chiều trên cơ sở những nguyên tắc kiểm soát chung. Tất nhiên, mô hình cạnh tranh trong cung ứng toàn bộ các hàng hóa và dịch vụ, kể cả dịch vụ hành chính công vẫn cần sự kiểm soát vận hành để loại trừ sự khủng hoảng do cạnh tranh tự phát gây ra.

Còn với mô hình độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công thì cần phải có cơ chế kiểm soát theo hướng phá thế độc quyền của chủ thể cung ứng. Để thực hiện được điều này, việc ứng dụng triết lý marketing vào quản lý cung ứng dịch vụ hành chính công là một hướng tích cực. Nội hàm căn bản nhất của triết lý marketing là đề cao quyền lực của “khách hàng” trong giao dịch “mua, bán” dịch vụ hành chính công. Mọi cải cách hay giải pháp đề xuất nhằm cải thiện thực trạng đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền ở Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ triết lý này.

Một đặc điểm khác nữa của dịch vụ hành chính công cũng giống như mọi dịch vụ khác là chất lượng dịch vụ thường không đồng đều. Tính không đồng đều về chất lượng dịch vụ càng tăng lên và càng khó kiểm soát khi sự tham gia của con người vào các khâu trong chuỗi cung ứng dịch vụ càng lớn và sự chuyển giao việc cung ứng dịch vụ phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều khâu và nhiều người cung ứng khác nhau. Cho nên muốn cải thiện thực sự chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công phải tìm cách giảm thiểu sự can thiệp của con người, giảm chia nhỏ các khâu của quá trình cung ứng, nâng cao chất lượng con người của hệ thống và tạo cơ chế cạnh tranh của các vị trí chủ chốt trong hệ thống.

4. Một số gợi ý cho việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam

Theo chúng tôi, muốn tạo ra một bước tiến rõ nét trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công theo yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường cần phải đẩy mạnh ứng dụng triết lý marketing. Theo đó, những giải pháp thực hiện cần tập trung vào nâng cao vị thế của “khách hàng” thụ hưởng dịch vụ hành chính công, tức là nâng cao vị thế của cử tri và doanh nghiệp, trong việc “gây sức ép” đối với chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công thông qua các “giá trịlợi ích” đem lại từ các biến số marketing hỗn hợp. Những giải pháp chủ yếu có thể khai thác bao gồm:

Một là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ hành chính công. Như trên đã khẳng định, do tính chất độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công, nên đã tạo cho chủ thể cung ứng dịch vụ đó trở nên “độc đoán, chuyên quyền”, chỉ chăm lo thu vén và bảo vệ lợi ích của mình, lợi ích nhóm, bất chấp lợi ích của khách hàng. Thậm chí, các chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công còn tìm mọi cách lẩn tránh, che đậy sự kiểm soát trong nội bộ hệ thống. Vì vậy, lối thoát của bế tắc này chỉ có thể là chủ thể lãnh đạo của hệ thống (Đảng cộng sản) phải trao một phần quyền lực cho khách hàng (cử tri và doanh nghiệp). Trên thực tế, Đảng đã làm nhiều việc để tăng cường kiểm soát nội bộ của hệ thống như: tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đảng; tăng cường giám sát của cấp trên với cấp dưới, tăng cường vai trò của hệ thống kiểm tra của Đảng và thanh tra của Chính phủ…Nhưng tất cả những việc đó mới được ráo riết thực hiện gần đây và suy cho cùng, đây cũng chỉ là sự giám sát nội bộ và hiệu quả như chúng ta thấy, chưa đạt được như mong đợi, vẫn chỉ là tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Muốn cải cách tình trạng hiện nay một cách thường xuyên, liên tục đem lại hiệu quả bền vững cần tăng cường sự giám sát ngoài hệ thống mà cụ thể hơn phải là tăng cường vai trò của khách hàng và doanh nghiệp thụ hưởng dịch vụ hành chính công. Liên quan đến hướng này có nhiều giải pháp khác nhau, nhưng một trong những việc cần làm trước mắt, theo chúng tôi, phải là: đối với các vị trí chủ trì của toàn bộ hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải có chương trình và kế hoạch hành động cụ thể khi tranh cử trong suốt nhiệm kỳ và được công khai trước khách hàng. Đây thực chất là “hữu hình hóa” dịch vụ để khách hàng phần nào nắm được chất lượng dịch vụ sẽ được cung cấp, xuất phát từ tính chất vô hình của dịch vụ, nói chung. Căn cứ vào đó khách hàng sẽ giám sát tiến độ thực hiện chương trình và kế hoạch của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng cung cấp dịch vụ hành chính công do người chủ trì đó quản lý. Cấp ủy lãnh đạo trực tiếp và cấp trên sẽ dựa vào ý kiến khách hàng để tiếp tục duy trì và yêu cầu chấn chỉnh hoặc bãi nhiệm các cá nhân giữ vị trí chủ trì của các cấp chính quyền. Điều mấu chốt của ý tưởng này là phải thu thập được thông tin thực và chính xác về việc đánh giá năng lực và phẩm chất từ phía khách hàng đối với các vị trí chủ chốt của các cấp chính quyền và các cơ quan có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ hành chính công. Đối với Việt Nam hiện nay ngoài việc làm cho các cấp của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và Phòng Thương mại và Công nghiệp thực sự trở thành cơ quan đại diện cho cử tri và doanh nghiệp, cần thành lập và gia tăng vai trò của các tổ chức dân sự, vai trò của các hội quần chúng…Muốn gia tăng vai trò của các cơ quan và tổ chức nói trên theo hướng đại diện cho khách hàng cần giảm sự can thiệp của các cấp ủy Đảng vào cương lĩnh hoạt động của các tổ chức này, trừ khi các tổ chức đó có những biểu hiện chống Đảng, chống Nhà nước.

Hai là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát “giá” dịch vụ hành chính công. Trên danh nghĩa hiện nay “cái giá” được công bố chính thức cho khách hàng để được cung ứng dịch vụ công rất thấp, tức là các chi phí để hoàn thành một dịch vụ hành chính công là khá “rẻ”, nhưng trên thực tế cái giá đó rất “đắt” do các chi phí ngầm là rất lớn. Đúng như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ khẳng định “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…”. (Đoàn Trần, 2018a. Đây mới chỉ là những tư liệu liên quan đến một mảng hoạt động nhỏ của dịch vụ hành chính công. Nếu có một con số thống kê đầy đủ về những hao tổn không chính thức mà các cử tri và doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình thực hiện các dịch vụ hành chính công thì sẽ chứng minh được chính xác cái giá của các dịch vụ hành chính công “đắt đỏ” đến mức nào. Đây chính là giá độc quyền nhưng ngân sách nhà nước lại không thu được. Để giải quyết tình trạng này, trên thực tế Đảng và Nhà nước cũng đang thực hiện nhiều việc như: phòng chống tham nhũng; thực hiện cơ chế một cửa và một cửa liên thông; xây dựng chính phủ điện tử,…Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần thực hiện quyết liệt và hiện thực hóa các giải pháp trên, mặt khác, cùng với quá trình đó cần kiên quyết thực hiện mạnh và mạnh hơn nữa việc giảm biên chế trên cơ sở thực hiện khoán công việc, tăng lương đúng mức và xứng đáng đủ để tái sản xuất sức lao động cho các cán bộ và nhân viên làm việc có hiệu quả trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công, sử dụng nghiệp vụ “tình báo – đóng vai” trao cho khách hàng để giám sát và kiểm tra sâu từ bên ngoài các nhân viên và các bộ phận có liên quan đến cung ứng các dịch vụ “dễ phát sinh tham nhũng vặt”, xử lý đủ nghiêm đến mức phải loại ra khỏi bộ máy hoặc xử lý hình sự những cán bộ và nhân viên có hành vi sai phạm được phát hiện. Bên cạnh đó, cũng có thể nghiên cứu để quy định giá trần cho nhiều dịch vụ hành chính công đang được cung ứng “miễn phí” bởi hệ thống chính quyền hiện nay, đồng thời nâng trần giá chính thức các dịch vụ hành chính công còn “rẻ”. Không nên quan niệm miễn phí hoặc giá rẻ đã là tốt cho khách hàng nếu hàng hóa, dịch vụ đó không thỏa mãn mong đợi của khách hàng.

Ba là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống “phân phối” dịch vụ hành chính công. Như trên đã gợi ý, do các dịch vụ hành chính công hiện nay chủ yếu được cung cấp miễn phí bởi hệ thống chính quyền các cấp, có nghĩa là kênh phân phối các dịch vụ hành chính công tới khách hàng còn là kênh đơn nhất. Cấu trúc kênh như thế thực chất là kênh độc quyền duy nhất. Như mọi hàng hóa, dịch vụ thông thường khác khi cấu trúc kênh theo kiểu này chỉ có lợi cho chủ thể cung ứng. Cho nên, theo tác giả, song song với kênh này và cùng với việc quy định giá trần cho các dịch vụ hành chính công nên cho phép thành lập các Công ty bên ngoài hệ thống hành chính hiện hành tham gia đấu thầu cung cấp các dịch vụ hành chính công. Với cách này sẽ phá thế độc quyền duy nhất của hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay và tăng thêm quyền kiểm soát của khách hàng thông qua quyền lựa chọn kênh cung ứng dịch vụ hành chính công.

Bốn là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống truyền thông dịch vụ hành chính công. Để công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia thành công, một mặt phải tăng cường hơn nữa vai trò và quyền tự do thông tin hệ thống báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông kiểm soát, cần cho phép quần chúng có thể bày tỏ nguyện vọng và phản ánh thông tin về chất lượng dịch vụ hành chính công, cũng như thông tin về phẩm chất và năng lực của các cơ quan, của các cán bộ, nhân viên trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công qua các kênh khác như mạng xã hội và internet, không nên coi những kênh này là kênh không chính thống. Tác giả cho rằng, nếu được tổ chức tốt và khuyến khích thì đây lại là hệ thống thông tin phản biện đa chiều có vai trò rất tích cực trong việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả của việc cải cách nền hành chính quốc gia. Đây là xu hướng phù hợp với thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, cần khai thác mặt tích cực chứ không nên chỉ nghĩ đến việc khó quản lý để cấm đoán.

Năm là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát quy trình cung ứng dịch vụ hành chính công. Theo hướng này, Chính phủ, chính quyền các cấp và các cơ quan có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải ban hành bộ sách và công khai đầy đủ về mọi quy trình cung ứng từng loại dịch vụ hành chính công. Trong mỗi bước của quy trình cần các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng… gì để vượt qua. Các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng …đó thế nào là hợp quy, thế nào là không hợp quy. Để hoàn thành thủ tục mỗi bước và toàn bộ của một dịch vụ cụ thể cần thời gian là bao nhiêu và nghĩa vụ giải đáp, phải trả lời và trả kết quả cho một dịch vụ hành chính công.

Sáu là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát yếu tố con người (cả cán bộ và nhân viên) có liên quan đến cung ứng dịch vụ hành chính công. Trước hết, phải nâng cao vai trò của khách hàng, cử tri và doanh nghiệp trong việc bầu các vị trí chủ chốt của toàn bộ hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương và phải coi đây là kênh chính thức và có trọng số quyết định. Các tổ chức khác có thể giới thiệu nhân sự ứng cử vào từng vị trí chủ chốt với trách nhiệm chủ yếu là công khai về phẩm chất và năng lực của các ứng viên cho cử tri – khách hàng. Còn các ứng viên, như đã nói ở trên, phải có chương trình và kế hoạch hành động. Sau khi các ứng viên đã trúng cử, bằng nhiều hình thức khác nhau (hòm thư góp ý, phiếu chấm điểm, tổ chức điều tra xã hội học…), cơ quan cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp phải định kỳ tổng hợp và thông báo kết quả công khai thăm dò ý kiến và dư luận xã hội về phẩm chất, năng lực và tiến độ giải quyết công việc của từng bộ phận, cơ quan, vị trí công vụ.

Bảy là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát cung ứng dịch vụ hành chính công bằng cách khẩn trương xây dựng một chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử chẳng qua là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được thay đổi theo một khái niệm hoàn toàn mới, chính phủ đó gần và thuận lợi với công dân hơn bằng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mọi quan hệ giữa chính phủ và công dân bảo đảm tính minh bạch, công khai, thuận tiện, bảo đảm sự kiểm soát và giám sát lẫn nhau giữa công dân với chính phủ”. Chính phủ điện tử là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa” ( Wikipedia).

Xây dựng chính phủ điện tử là yêu cầu tất yếu của thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Do sớm nhận thức được điều này nên ngay từ năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36- NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong đó chỉ rõ: “Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…”. Nghị quyết đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 “triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực”. Để triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2015 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiên Nghị quyết số 36- NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tiếp đến ngày 14 tháng 10 năm 2015 Chính phủ ban hành Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử. Mới đây nhất, Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập Ủy ban Quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin về xây dựng Chính phủ điện tử. Tất cả các chủ trương của Đảng và hành động của Chính phủ chứng tỏ vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính phủ điện tử đã trở nên bức bách hơn bao giờ hết.

Trên góc độ marketing dịch vụ, xây dựng chính phủ diện tử cũng là phương sách thay đổi căn bản yếu tố môi trường vật chất (công cụ thứ 7 của tổ hợp marketing dịch vụ), gắn với đặc trưng về tính chất không đồng đều của chất lượng dịch vụ khi sự can thiệp của con người vào quá trình cung ứng quá nhiều. Thay đổi yếu tố môi trường vật chất cùng với thay đổi tư duy và phương thức cung ứng dịch vụ hành chính công sẽ kéo theo sự thay đổi khả năng kiểm soát của khách hàng với tất cả các biến số khác của marketing hỗn hợp. Cho nên có thể nói, việc xây dựng chính phủ điện tử, mặc dù gần đây đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quan tâm khởi động, nhưng phải nên coi đây là công việc nên làm trước hết và tập trung nguồn lực làm bằng được trong tiến trình hiện thực hóa một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” Đây là hệ thống đồng bộ các giải pháp từ góc nhìn của marketing đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công. Thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả và đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam chắc chắn sớm rút ngắn khoảng cách chênh lệch trong chất lượng dịch vụ hành chính công được cung ứng, kéo theo đó là góp phần cải thiện một cách rõ nét về vị thế và thứ hạng về mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư so với các nước thuộc tốp đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và chủ thuyết về việc xây dựng một “Chính phủ kiến tạo, dịch vụ, liêm chính và hành động” một cách thực chất mới nhanh chóng trở thành hiện thực.

Tài liệu tham khảo:
CẢI CÁCH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ MARKETING DỊCH VỤ
Trần Minh Đạo
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018 P.11

Nghiên cứu: Thực trạng điều kiện Kinh doanh tại Việt Nam

Nghiên cứu: Thực trạng điều kiện Kinh doanh tại Việt Nam
Tóm tắt /Abstract:
Business conditions under the law of Vietnam – current situation and recommendations In Vietnam, since the Economic Transformation, besides recognizing and guaranteeing the right of business freedom, the competent State bodies of Vietnam have applied a series of conditions in various forms to investors and enterprises when doing conditional business in order to overcome the shortcomings of the market mechanism as well as to achieve its management objectives. However, the existence of a large number of business conditions, many of which are regarded as unnecessary and unreasonable, has become barriers to the business freedom of investors, businesses. The article refers to current Vietnamese law provisions on business conditions, analyzes and assesses the current business conditions in Vietnam and proposes some recommendations to improve the law on business conditions in the coming time.
Keywords: Business conditions, business lines, Law on Enterprise, Law on Investment.

1. Đặt vấn đề

Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, hoạt động đầu tư kinh doanh luôn giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nên luôn được các nhà nước quan tâm, tạo điều kiện phát triển. Đại đa số các quốc gia hiện nay trên thế giới đều thừa nhận quyền tự do kinh doanh và có cơ chế bảo đảm cho các chủ thể kinh doanh được thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, khi mà mỗi chủ thể kinh doanh đều tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận, thì việc thực hiện quyền tự do kinh doanh một cách không kiểm soát trong mọi trường hợp có thể tiềm ẩn nguy cơ xâm hại đến trật tự công, quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nên song song với việc ghi nhận quyền tự do kinh doanh, các nhà nước thường đặt ra những giới hạn bằng pháp luật để việc thực hiện quyền tự do kinh doanh không bị lạm dụng, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Một trong những giới hạn đó chính là các điều kiện kinh doanh (những điều kiện mà Nhà nước quy định đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải đáp ứng khi kinh doanh một ngành, nghề kinh doanh nào đó).

Tác động của các điều kiện kinh doanh thường mang tính hai chiều. Nếu các điều kiện kinh doanh được sử dụng hợp lý sẽ phát huy được vai trò tích cực của công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, góp phần hài hòa mọi lợi ích trong xã hội. Còn nếu điều kiện kinh doanh được sử dụng một cách tùy tiện, bất hợp lý thì lại trở thành những rào cản làm cản trở quyền tự do kinh doanh cũng như xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, tác động xấu đến môi trường kinh doanh, làm giảm năng lực cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.

Việt Nam do trải qua một thời gian dài bị ảnh hưởng bởi cơ chế xin − cho của nền kinh tế bao cấp và có sự buông lỏng kỷ cương trong hoạt động xây dựng và ban hành các điều kiện kinh doanh trước đây, nên dẫn đến sự tùy tiện của các Bộ ngành, địa phương trong việc ban hành các điều kiện kinh doanh. Hệ quả là có sự ra đời và tồn tại của hàng ngàn các điều kiện kinh doanh bất hợp lý, gây ra nhiều khó khăn, rủi ro cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Để khắc phục những tồn tại trên, trong thời gian vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã có những chỉ đạo và hành động quyết liệt trong công tác rà soát, cắt giảm các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh, nhằm cải cách toàn diện các quy định về điều kiện kinh doanh. Những nỗ lực cải cách tuy có đạt được những thành công nhất định ban đầu; song những bất cập trong hệ thống điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay vẫn còn rất lớn.

Vì vậy, bài viết này sẽ tập trung phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kinh doanh, phân tích thực trạng của hệ thống điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay. Từ đó đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh, góp phần cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trong thời gian tới.

2. Pháp luật Việt Nam về điều kiện kinh doanh

Ở Việt Nam, sự ra đời của các điều kiện kinh doanh gắn liền với thời kỳ Nhà nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường và ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân. Ngay từ trong những luật về doanh nghiệp đầu tiên được ban hành sau khi chuyển đổi là Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp Tư nhân năm 1990, để thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế của mình, Nhà nước đã đặt ra quy định để thành lập doanh nghiệp thì nhà đầu tư phải xin được giấy phép từ cơ quan có thẩm quyền, đồng thời doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định (Quốc hội, 1990a, 1990b). Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh khác do các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đặt ra. Quy định này dẫn đến sự nở rộ của các loại giấy phép như: giấy phép hành nghề, giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất, nhập khẩu…do các bộ, ban ngành, chính quyền địa phương cấp. Các doanh nghiệp khi thành lập hay tiến hành hoạt động kinh doanh thường phải tiếp cận nhiều cơ quan để xin các loại giấy phép, khiến chi phí thành lập doanh nghiệp gia tăng, thời gian thành lập doanh nghiệp kéo dài, làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 ra đời đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của công dân trong Hiến pháp năm 1992, khắc phục những hạn chế của pháp luật về điều kiện kinh doanh trước đó bằng việc quy định không phải kinh doanh ngành, nghề nào cũng cần phải đáp ứng điều kiện kinh doanh. Các điều kiện kinh doanh thì được chia thành hai nhóm: nhóm điều kiện kinh doanh thể hiện dưới dạng giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp và nhóm điều kiện kinh doanh không cần xin giấy phép. Doanh nghiệp được kinh doanh khi đáp ứng các điều kiện kinh doanh như tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông…Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 còn quy định rõ điều kiện kinh doanh phải được quy định bằng các văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, nếu không sẽ không có giá trị pháp lý (Quốc hội, 1999). Quy định này đã hạn chế đáng kể tình trạng xin – cho giữa doanh nghiệp và Nhà nước trước đây, cũng như hạn chế tình trạng ban hành các điều kiện kinh doanh một cách tràn lan của các Bộ ngành, chính quyền địa phương.

Đến Luật Doanh nghiệp năm 2005, do ra đời trong bối cảnh Việt Nam phải cải cách mạnh mẽ thể chế kinh tế để chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Luật này đã có sự quy định rõ ràng, minh bạch hơn về các điều kiện kinh doanh. Theo đó, các điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức: giấy phép kinh doanh; giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; chứng chỉ hành nghề; chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; xác nhận vốn pháp định; chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành, nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Quốc hội, 2005). Tuy nhiên, những ngành, nghề nào là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, mục tiêu và nguyên tắc ban hành điều kiện kinh doanh thì lại chưa được Luật Doanh nghiệp năm 2005 xác định rõ, dẫn đến thực trạng là nhiều Bộ ngành khi tham gia xây dựng các Luật, Nghị định chuyên ngành đã đưa vào đó nhiều điều kiện kinh doanh không cần thiết dưới dạng các thủ tục hành chính như giấy phép, thủ tục đăng ký, cấp thẻ,...khiến cho các điều kiện kinh doanh không giảm mà lại có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Luật Đầu tư năm 2014 ra đời đã khắc phục được tình trạng trên bằng việc xây dựng một Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện với 267 ngành, nghề cụ thể (Quốc hội, 2014). Danh mục này hiện nay đã được sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư, rút gọn số lượng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện xuống còn 243 ngành, nghề (Quốc hội, 2016). Đồng thời, Luật này cũng quy định chỉ được ban hành các điều kiện kinh doanh vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Theo quy định hiện hành, các điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức sau (Chính phủ, 2015):

- Giấy phép: Là văn bản do cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành có thẩm quyền cấp cho cá nhân, doanh nghiệp khi kinh doanh những ngành, nghề nhất định. Ví dụ: Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, giấy phép thiết lập mạng xã hội do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp, giấy phép kinh doanh mua bán vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước cấp, giấy phép kinh doanh rượu do Bộ Công thương cấp, giấy phép xây dựng do Bộ Xây dựng cấp…

- Giấy chứng nhận đủ điều kiện: Là văn bản do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp cho doanh nghiệp nhằm chứng nhận doanh nghiệp đủ điều kiện để kinh doanh ngành, nghề nhất định thuộc quyền quản lý của cơ quan đó. Ví dụ: Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc do Bộ Y tế cấp; giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp; giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh gas do Phòng Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội Công an cấp tỉnh cấp; giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh casino do Bộ Tài chính cấp…

- Chứng chỉ hành nghề: Là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân khi cá nhân đó có đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành, nghề nhất định. Đây là điều kiện kinh doanh được đặt ra đối với những ngành, nghề đòi hỏi yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp. Ví dụ: Chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp; chứng chỉ hành nghề kế toán do Bộ Tài chính cấp; chứng chỉ hành nghề chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp; chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng do Cục Quản lý hoạt động Xây dựng (thuộc Bộ Xây dựng), Sở Xây dựng hoặc Hiệp hội Tư vấn Xây dựng Việt Nam cấp (tùy từng hạng chứng chỉ)…

- Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp: Là văn bản do tổ chức bảo hiểm cấp để chứng nhận rằng một cá nhân, tổ chức đã tham gia dịch vụ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của tổ chức bảo hiểm đó. Ví dụ: Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư theo Luật Luật sư, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bác sỹ, y tá theo Luật Khám chữa bệnh…

- Văn bản xác nhận: Ví dụ, văn bản xác nhận vốn cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có vốn pháp định như kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…; giấy xác nhận thực vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đối với ngành, nghề sản xuất, kinh doanh sinh vật biến đổi gen, sản phẩm của sinh vật biến đổi gen sử dụng làm thực phẩm.

- Các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật: Ví dụ, công văn chấp thuận của Bộ Tài chính đối với ngành, nghề kinh doanh dịch vụ đào tạo đại lý bảo hiểm, quyết định phê duyệt nội dung kịch bản trò chơi điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ngành nghề kinh doanh trò chơi trên mạng, văn bản chứng minh bản quyền hợp pháp đối với ngành nghề kinh doanh dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền.

- Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản nêu trên: Ví dụ, kinh doanh ngành, nghề nhập khẩu phế liệu phải đáp ứng các điều kiện như có kho giữ phế liệu, có bãi lưu giữ phế liệu nhập khẩu, có công nghệ, thiết bị tái chế, tái sử dụng phế liệu phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định. Kinh doanh dịch vụ lưu trú như khách sạn, làng du lịch phải bảo đảm yêu cầu tối thiểu về xây dựng, trang thiết bị, dịch vụ, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ của người quản lý và nhân viên phục vụ theo tiêu chuẩn xếp hạng tương ứng đối với mỗi loại, hạng.

Như vậy, theo quy định hiện hành, hình thức biểu hiện của các điều kiện kinh doanh rất đa dạng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp trong việc tiếp cận các thông tin pháp lý, giúp họ chủ động hơn, chuẩn bị tốt hơn cho việc gia nhập thị trường của mình, các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh hiện nay đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập hợp và công bố công khai trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia tại https:dangkykinhdoanh.gov.vn

3. Thực trạng điều kiện kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Trong 5 năm trở lại đây (từ năm 2014), Chính phủ Việt Nam đã đề ra chủ trương rà soát, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh nhằm mục đích cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Kết quả hoạt động rà soát các điều kiện kinh doanh trong thời gian qua đã cho thấy hệ thống các điều kiện kinh doanh và ngành, nghề kinh doanh có điều kiện ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại một số bất cập sau đây:

Thứ nhất, các điều kiện kinh doanh hiện nay đang tồn tại với số lượng rất lớn và được quy định trong rất nhiều văn bản, làm khó cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong quá trình áp dụng. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), tương ứng với 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì có tới khoảng 4.284 điều kiện kinh doanh (CIEM, 2017). Như vậy, 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện mới chỉ là ngành nghề “mẹ”, còn từ các ngành, nghề “mẹ” lại sản sinh nhiều điều kiện “con”, “cháu”, tạo thành tập hợp các điều kiện kinh doanh với số lượng rất lớn. Ngay trước đó, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và World Bank, do dựa trên cách tiếp cận, các tiêu chí và phạm vi rà soát khác, đã đưa ra số liệu báo cáo là trong 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện có tới 5.719 điều kiện đầu tư kinh doanh (Hà Chính, 2017).

Cũng theo CIEM, các điều kiện kinh doanh hiện nay do 15 Bộ quản lý, nhưng được quy định trong 237 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 66 luật, 3 pháp lệnh, 162 nghị định, 3 hiệp định (CIEM, 2017). Hệ thống văn bản như ma trận như vậy đã làm các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc tiếp cận các quy định, chính sách về đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, làm nản lòng các nhà đầu tư.

Thứ hai, trong danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện còn nhiều ngành, nghề không phù hợp với tiêu chí xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư. Theo quy định hiện hành, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là những ngành, nghề đòi hỏi việc đầu tư, kinh doanh các ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện nhất định vì một trong các lý do: (i) quốc phòng, an ninh quốc gia, (ii) trật tự, an toàn xã hội, (iii) đạo đức xã hội, (iv) sức khỏe cộng đồng (Quốc hội, 2014). Đó chính là những mục tiêu để xác định ngành, nghề nào là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Tuy nhiên, qua rà soát danh mục 243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư hiện hành, có thể nhận thấy có nhiều ngành, nghề trong danh mục này không cần thiết phải quy định thành ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Ví dụ: kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, xuất khẩu gạo, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển, kinh doanh dịch vụ in, trừ in bao bì…Đây chỉ là những ngành, nghề kinh doanh thông thường, hoạt động kinh doanh hay kết quả của nó không tác động trực tiếp tới quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội hay sức khỏe cộng đồng. Nếu trong quá trình kinh doanh có rủi ro, thì những rủi ro đó chỉ tác động đến các chủ thể tư và đã có hệ thống pháp luật tư như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại bảo vệ chứ không cần thiết Nhà nước bảo vệ thông qua việc đặt ra các điều kiện hạn chế kinh doanh. Thứ ba, vẫn còn nhiều điều kiện kinh doanh được ban hành và tồn tại một cách trái luật. Ngay từ Luật Doanh nghiệp năm 2005, khi xác định thẩm quyền ban hành các điều kiện kinh doanh, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã xác định rõ: “Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh” (Điều 7.5). Đến Luật Đầu tư năm 2014 thì nhắc lại là điều kiện đầu tư kinh doanh chỉ được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định chứ không được quy định trong các thông tư của Bộ, cơ quan ngang Bộ và văn bản của các cấp chính quyền địa phương hay các cơ quan khác (Điều 7.3). Tuy nhiên, trên thực tế hiện tại vẫn tồn tại những điều kiện kinh doanh quy định tại cấp Thông tư của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Ví dụ: Điều kiện cấp phù hiệu, biển hiệu xe ô tô của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải được quy định tại Thông tư 63/2014/TT-BGTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Hay điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp được quy định tại Thông tư số 25/2015
/TTBLĐTBXH quy định về đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp, cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và đình chỉ hoạt động giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp. Rõ ràng, những điều kiện kinh doanh được ban hành trong các văn bản cấp Thông tư như trên đang trái luật.

Thứ tư, vẫn còn rất nhiều điều kiện kinh doanh được đặt ra một cách bất hợp lý, không cần thiết. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), trong số khoảng 4.284 điều kiện đầu tư kinh doanh thì có đến 1.336 điều kiện về năng lực sản xuất, 1.090 điều kiện về nhân lực, 302 điều kiện về tài chính, 127 điều kiện về phương thức thanh toán, 85 điều kiện về địa điểm, 80 điều kiện về quy hoạch (CIEM, 2017). Trong số các điều kiện kinh doanh nêu trên, có rất nhiều điều kiện kinh doanh đã được đặt ra một cách bất hợp lý, không cần thiết vì những lý do sau:

- Làm cản trở khả năng gia nhập thị trường đối với các chủ thể kinh doanh không có tiềm lực tài chính, tạo sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ trên thị trường. Những điều kiện này thường ở dạng yêu cầu về cơ sở vật chất, về số vốn nhất định đối với doanh nghiệp. Ví dụ, theo quy định tại Nghị định số 86/2014/NĐ-CP quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, để kinh doanh vận tải theo tuyến cố định, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về quy mô. Đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các thành phố trực thuộc Trung ương thì từ 20 xe trở lên, đối với đơn vị có trụ sở đặt tại các địa phương còn lại yêu cầu từ 10 xe trở lên, riêng đơn vị có trụ sở đặt tại huyện nghèo theo quy định của Chính phủ cần từ 05 xe trở lên. Lý do mà cơ quan soạn thảo Nghị định 86/2014/NĐ-CP nêu ra khi xây dựng quy định về quy mô của doanh nghiệp kinh doanh vận tải như trên để nhằm giải quyết tình trạng manh mún của các doanh nghiệp vận tải, bảo đảm sự an toàn giao thông cho khách hàng. Song trên thực tế, rõ ràng không có cơ sở nào để xác định doanh nghiệp có số lượng phương tiện vận tải lớn hơn thì sẽ cung cấp dịch vụ tốt hơn. Quy định điều kiện về số lượng xe như trên đã loại bỏ những doanh nghiệp quy mô nhỏ khỏi thị trường kinh doanh dịch vụ vận tải, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lớn chiếm lĩnh thị trường, tạo sự cạnh tranh bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn và làm giảm cơ hội lựa chọn cho khách hàng.

- Can thiệp một cách bất hợp lý vào các yếu tố thị trường trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, Nghị định số 87/2016/NĐ-CP của Chính phủ (2016b) quy định điều kiện kinh doanh mũ bảo hiểm cho người đi xe gắn máy đưa ra điều kiện đối với hoạt động phân phối mũ bảo hiểm là các chủ thể phân phối phải có địa điểm kinh doanh rõ ràng, cửa hàng bán lẻ phải có biển hiệu ghi rõ ràng, ở vị trí dễ quan sát…Thực ra, việc đặt ra các điều kiện này là không cần thiết, vì nếu các điều kiện này không được đáp ứng thì chỉ có quyền lợi của người bán bị ảnh hưởng, nên người bán sẽ tự thực hiện các biện pháp để bảo đảm được quyền lợi của mình, Nhà nước không cần và không nên đặt ra các điều kiện như vậy để can thiệp đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hay tại Nghị định số 86/2014/NĐ-CP của Chính phủ (2014) về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô quy định điều kiện chung về nhân sự đối với hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là “nhân viên phục vụ trên xe phải được tập huấn về nghiệp vụ và các quy định của pháp luật đối với hoạt động vận tải theo quy định của Bộ Giao thông Vận tải”. Lý do của cơ quan chủ trì soạn thảo Nghị định 86 khi đưa ra quy định này là nhằm mục đích đảm bảo chất lượng dịch vụ của đơn vị vận tải ô tô. Nhưng trong bối cảnh giữa các doanh nghiệp vận tải trên thị trường đang có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thì tự các doanh nghiệp sẽ phải nâng cao chất lượng dịch vụ, thông qua nâng cao nghiệp vụ của các nhân viên phục vụ, để có thể thu hút được hành khách. Do đó, Nhà nước không cần can thiệp vào vấn đề này mà nên để cho quy luật thị trường điều tiết.

- Can thiệp vào quyền tự quyết của doanh nghiệp như quyền thuê mướn lao động, quyền quyết định quy mô kinh doanh, cơ cấu tổ chức nội bộ doanh nghiệp…Theo khoản 6, Điều 7, Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp có quyền thuê, tuyển dụng và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh. Tuy nhiên, qua rà soát các điều kiện kinh doanh hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy vẫn có những ngành, nghề quy định về điều kiện kinh doanh dưới dạng yêu cầu về loại hợp đồng lao động mà doanh nghiệp phải ký kết đối với nhân sự, can thiệp một cách bất hợp lý đối với quyền cơ bản trên của doanh nghiệp. Ví dụ, theo quy định tại Nghị định 107/2016/NĐ-CP của Chính phủ (2016a) quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp, điều kiện về nhân sự đối với ngành, nghề kinh doanh dịch vụ chứng nhận sản phẩm, hệ thống quản lý là “Có ít nhất 04 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn)…”. Mục tiêu của quy định này là nhằm đảm bảo sự ổn định về mặt nhân sự cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách thức quy định lại chưa phù hợp và ít ý nghĩa thực tế. Bởi vì tùy theo nhu cầu, doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức hợp đồng lao động để ký kết và các bên có thể chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn dựa vào thỏa thuận. Vì vậy, yêu cầu về thời hạn của hợp đồng chưa chắc đã bảo đảm được rằng lao động đó sẽ làm việc ổn định tại doanh nghiệp. Hay tại Nghị định 160/2016/NĐ-CP của Chính phủ (2016c) về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển quy định điều kiện về bộ máy tổ chức đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển là “phải có bộ phận thực hiện công tác pháp chế”. Có thể khi xây dựng điều kiện này, Bộ Giao thông Vận tải cho rằng doanh nghiệp vận tải tàu biển cần phải có cán bộ chuyên trách pháp chế để đảm bảo doanh nghiệp chấp hành đúng pháp luật và xử lý tranh chấp trong kinh doanh. Tuy nhiên, việc chấp hành pháp luật là nghĩa vụ của tất cả các chủ thể kinh doanh chứ không riêng gì doanh nghiệp vận tải tàu biển, nhưng tại sao chỉ có ngành kinh doanh vận tải biển có yêu cầu điều kiện về nhân sự pháp chế? Hơn nữa, điều kiện này đã khiến các doanh nghiệp vận tải biển phải gia tăng một khoản chi phí khi trả tiền lương thường xuyên cho nhân sự này, trong khi họ có thể lựa chọn một cách thức khác như thuê các công ty luật theo từng vụ việc khi cần thiết. Rõ ràng, các quy định điều kiện về nhân sự như trên là sự can thiệp bất hợp lý vào việc tổ chức bộ máy của doanh nghiệp, tạo ra trở ngại đáng kể cho doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp nhỏ và vừa khi phải gia tăng chi phí kinh doanh.

Sở dĩ, hệ thống điều kiện đầu tư kinh doanh ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế nêu trên là bởi một số nguyên nhân sau đây:

- Do yếu tố lịch sử của nền kinh tế − xã hội Việt Nam: Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một thời gian dài vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, khi đó Nhà nước quản lý nền kinh tế theo cơ chế “xin − cho”, quyền tự do kinh doanh của các chủ thể không được Nhà nước ghi nhận. Dấu ấn của cơ chế “xin − cho” đó vẫn ảnh hưởng nặng nề đến tư duy của các nhà quản lý và hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý, dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của giấy phép kinh doanh trong nhiều ngành, nghề kinh doanh hiện nay.

- Do sự hạn chế về năng lực, phương thức quản lý nhà nước của một số cơ quan quản lý đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, dẫn đến tâm lý hoạt động nào không quản lý được thì cấm, hoặc thu hẹp quyền kinh doanh lại bằng việc đặt ra các điều kiện kinh doanh, đẩy các khó khăn về cho doanh nghiệp. - Do thiếu cơ chế giám sát cũng như sự buông lỏng kỷ cương trong việc ban hành các điều kiện kinh doanh trong thời gian dài. Điều này dẫn đến việc ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh của các cơ quan, Bộ ngành được thực hiện một cách tùy tiện, không có tính khoa học, không rõ mục tiêu quản lý của Nhà nước mà nhiều khi chỉ dựa trên ý chí chủ quan của nhà quản lý. Từ đó dẫn đến sự ra đời của rất nhiều điều kiện kinh doanh trái luật hoặc không cần thiết, tạo nên gánh nặng chi phí cho nhà đầu tư và doanh nghiệp khi gia nhập thị trường và tiến hành các hoạt động kinh doanh.

4. Một số kiến nghị

Nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh và xây dựng được một hệ thống các điều kiện kinh doanh hợp lý, để các điều kiện kinh doanh phát huy được vai trò là công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, hạn chế các tác động xấu của điều kiện kinh doanh đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp cũng như môi trường kinh doanh của Việt Nam, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị sau đây: Thứ nhất, cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ và thường xuyên hoạt động rà soát, cắt giảm các điều kiện kinh doanh theo hướng:

- Rà soát, bãi bỏ những ngành, nghề kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng những mục tiêu, tiêu chí quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong Luật Đầu tư năm 2014. Ví dụ những ngành, nghề như kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, xuất khẩu gạo, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển…

- Rà soát, cắt giảm và đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh bất hợp lý, không cần thiết, làm cản trở quyền tự do kinh doanh, gia tăng chi phí gia nhập thị trường cho nhà đầu tư và doanh nghiệp, như các điều kiện về quy mô kinh doanh, cơ sở vật chất, số năm kinh nghiệm của nhân sự, cơ cấu tổ chức nội bộ…

- Xem xét chuyển một số điều kiện kinh doanh không cần thiết sang hình thức quản lý khác phù hợp hơn, tạo sự cởi mở, thông thoáng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, đối với ngành, nghề sản xuất mũ bảo hiểm, thay bằng việc đặt ra hàng loạt các điều kiện yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng như điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất, kỹ thuật…khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi muốn tiến hành hoạt động kinh doanh, Nhà nước có thể quản lý chất lượng sản phẩm bằng việc đặt ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa, sản phẩm lưu thông trên thị trường và các chế tài răn đe đủ mạnh khi doanh nghiệp vi phạm thì sẽ hợp lý, hiệu quả hơn.

- Tập hợp hóa, hệ thống hóa lại hệ thống văn bản quy định về điều kiện kinh doanh theo hướng giảm số lượng văn bản, tránh sự chồng chéo, trùng lặp, gây khó khăn cho các chủ thể áp dụng. Như đã nói ở trên, hoạt động rà soát, cắt giảm các điều kiện kinh doanh không phù hợp đã được Chính phủ Việt Nam chỉ đạo rất quyết liệt trong 5 năm trở lại đây. Đầu năm 2018, Chính phủ đã giao chỉ tiêu cụ thể cho các Bộ là phải hoàn thành việc bãi bỏ, đơn giản hóa 50% điều kiện kinh doanh (Chính phủ, 2018). Gần đây nhất là ngày 13 tháng 7 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải hoàn thành việc việc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh mà mình quản lý trước ngày 15 tháng 8 năm 2018 (Thủ tướng Chính phủ, 2018). Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, chỉ có Bộ Công thương đã hoàn thành nhiệm vụ và đã trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 08/2018/NĐ-CP cắt giảm 675 trong tổng số 1.216 điều kiện đầu tư kinh doanh (tương đương 55,5%) do Bộ này quản lý. Vì vậy, việc rà soát, cắt giảm các điều kiện kinh doanh hiện nay cần có sự tham gia tích cực, đồng bộ và có trách nhiệm của tất cả các Bộ ngành, tránh tình trạng đối phó, hình thức, biến tướng điều kiện kinh doanh từ dạng này sang dạng khác buộc các nhà đầu tư, doanh nghiệp phải tuân thủ.

Thứ hai, cần xiết chặt kỷ cương trong việc ban hành các điều kiện kinh doanh, chấm dứt tình trạng ban hành các điều kiện kinh doanh bất hợp lý, trái luật. Mặc dù Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP đã làm được một điều mà pháp luật đầu tư trước đây chưa làm được, đó là minh bạch hóa danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cũng như cơ chế sửa đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Song, chúng ta cần đảm bảo tính kỷ cương thực sự khi tiến hành việc sửa đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh trên thực tế, tránh tình trạng luật có quy định nhưng Bộ ngành vẫn ban hành điều kiện trái luật như những năm qua. Cần phải bổ sung trong Luật Đầu tư quy định về cơ chế khiếu nại của nhà đầu tư, doanh nghiệp và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước và cá nhân người đứng đầu khi cơ quan này có hành vi lạm quyền trong việc ban hành, sử dụng điều kiện kinh doanh.

Thứ ba, cần bổ sung quy trình tham vấn, lấy ý kiến của cộng đồng các nhà đầu tư, doanh nghiệp khi bổ sung ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh mới. Đã từ lâu, các Bộ ngành vì lợi ích riêng có xu hướng đặt ra nhiều điều kiện kinh doanh đối với các ngành, nghề thuộc lĩnh vực mình quản lý. Rất nhiều điều kiện kinh doanh được ban hành một cách chủ quan, duy ý chí, tạo lợi ích nhóm và thế độc quyền cho doanh nghiệp lớn, “bóp chết” các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường. Vì vậy, trong quy trình sửa đổi, bổ sung ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh cần có quy định yêu cầu cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của cộng đồng các nhà đầu tư và doanh nghiệp, chuyên gia kinh tế trong một thời hạn hợp lý, để các điều kiện kinh doanh được ban hành một cách khách quan, khoa học, xuất phát từ nhu cầu thực tế của hoạt động quản lý nhà nước và doanh nghiệp, chứ không phải là rào cản đối với doanh nghiệp trong kinh doanh.

Tài liệu tham khảo:
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ Lương Thị Thu Hà
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257(II) tháng 11/2018

Nghiên cứu: Quyền cạnh tranh bình đẳng trong đấu thầu xây lắp

Tóm tắt /Abstract:
Equal Competition Rights of Contractors in Procurements of Works

Equal competition is the right of contractor in procurement of works. Ensuring fair competition has a great important role for the effectiveness of contractor selection. This study clarifies the concept of equal competition rights, analyzes infringements of fair competition right in procurement of works and proposes solutions to ensure fair competition for contractors, such as intensifying the application of information technology to bidding, ensuring publicity and transparency of bidding activities; developing internal and external supervising mechanisms for the entirely bidding process; establishing mechanisms for solving independent tendering proposals; to effectively handle acts of infringing upon the fair competition rights of contractors.
Keywords: Competition, Equal competition right, Procurement of works.

1. Giới thiệu

Hoạt động xây dựng là một hoạt động phổ biến trong xã hội. Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng nguồn vốn nhà nước, chủ đầu tư thường phải lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng công trình thông qua việc tổ chức đấu thầu. Về nguyên tắc, khi tham gia đấu thầu, các nhà thầu được quyền cạnh tranh bình đẳng với nhau để giành phần thắng. Tuy vậy, trong thực tiễn hoạt động đấu thầu xây lắp ở Việt Nam, nhiều cuộc đấu thầu được tổ chức mà không có sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu. Việc quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lựa chọn nhà thầu, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các nhà thầu, ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh nói chung, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn mua sắm công trình. Bài viết này tập trung làm rõ khái niệm quyền cạnh tranh bình đẳng, phân tích các hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp theo pháp luật Việt Nam, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm bảo đảm quyền cạnh tranh bình đẳng cho các nhà thầu.

2. Lý luận về quyền cạnh tranh bình đẳng

Quan niệm về cạnh tranh, Black (1968, 355-356) định nghĩa: “cạnh tranh là nỗ lực của hai hoặc nhiều bên, hành động một cách độc lập, bằng việc đề xuất các điều kiện thuận lợi nhất nhằm giành được lợi ích từ bên thứ ba”. Viện Ngôn ngữ học (2003, 112) định nghĩa: “cạnh tranh là cố gắng dành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”. Black (1968, 631) định nghĩa: “bình đẳng là như nhau hay cùng một mặt bằng, cùng một cấp độ”. Viện Ngôn ngữ học (2003, 68) định nghĩa: “bình đẳng là ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi”.

Từ những quan niệm như trên, quyền cạnh tranh bình đẳng được hiểu là quyền của các chủ thể tham gia cạnh tranh, các thủ thể có có địa vị như nhau, có các quyền và nghĩa vụ như nhau trong quá trình ganh đua nhằm dành phần thắng về phía mình.

Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình, cần phải có nhà thầu tiến hành công việc xây lắp. Nhà thầu này do chủ đầu tư lựa chọn trên cơ sở đáp ứng các tiêu chuẩn, năng lực thực hiện công việc. Căn cứ vào nguồn vốn và mức vốn sử dụng đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư phải tuân theo các yêu cầu khác nhau về lựa chọn nhà thầu. Hiện nay, các công trình xây dựng có sử dụng vốn nhà nước, pháp luật quy định chủ đầu tư phải lựa chọn nhà thầu thông qua đấu thầu. Theo đó, trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu, chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tối ưu các yêu cầu của mình để ký kết hợp đồng thực hiện dự án.

Quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu là quyền của các nhà thầu khi tham gia đấu thầu, được đối xử như nhau, có các quyền và nghĩa vụ như nhau trong quá trình đấu thầu. Quyền cạnh tranh bình đẳng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả lựa chọn nhà thầu của chủ đầu tư. Quyền cạnh tranh bình đẳng của nhà thầu được thể hiện thông qua: quyền bình đẳng tiếp cận và tham gia đấu thầu; quyền bình đẳng trong đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự thầu; quyền bình đẳng về kiến nghị, khiếu nại về kết quả lựa chọn hoặc những vấn đề khác trong đấu thầu.

3. Thực trạng quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp

3.1. Thực trạng quyền bình đẳng tiếp cận và tham gia đấu thầu

Trong quá trình tổ chức đấu thầu xây lắp, hiện tượng chủ đầu tư, bên mời thầu tìm mọi cách để đấu thầu khép kín với các nhà thầu quen, không cho các nhà thầu lạ tham dự đấu thầu diễn ra phổ biến. Để đạt được mục đích này, chủ đầu tư, bên mời thầu có các hành vi phân biệt đối xử, cản trở đối với các nhà thầu lạ tiếp cận với thông tin mời thầu, mua hồ sơ mời thầu và gây khó khăn khi tiếp nhận hồ sơ dự thầu. Nhà thầu lạ bị phân biệt đối xử, bị cản trở bằng nhiều hình thức khác nhau.

Các hình thức cản trở tiếp cận thông tin đấu thầu bao gồm: thông báo kiểu truyền miệng cho người quen hoặc chỉ đăng tải mời thầu trên báo địa phương, không đăng tải trên báo đấu thầu, mạng đấu thầu quốc gia. Các nhà thầu lạ, bị bên mời thầu gây khó khăn, cản trở việc mua được hồ sơ mời thầu, chẳng hạn như: đăng tải thông tin trên mạng không đầy đủ các nội dung theo quy định hoặc đưa thông tin một cách chung chung, chiếu lệ gây khó cho việc tìm địa chỉ bán hồ sơ mời thầu; số điện thoại liên lạc bán hồ sơ không đúng hoặc khó liên lạc; bắt nhà thầu phải đi lại nhiều lần đến nơi phát hành hồ sơ mời thầu (Trung tâm bồi dưỡng Đại biểu dân cử 2013, 17); dùng xã hội đen ngăn cản ở vòng ngoài, không cho vào địa điểm bán hồ sơ mời thầu (Huyền Anh, 2016); người phụ trách bán hồ sơ khuyên không tham gia vì có người đã được nhắm làm công trình, có mua hồ sơ cũng trượt (Anh Tú, 2014). Trong trường hợp nhà thầu may mắn vượt qua được rất nhiều rào cản để mua được hồ sơ mời thầu thì thời gian để chuẩn bị cho hồ sơ không còn nhiều, không kịp để chuẩn bị chu đáo cho hồ sơ dự thầu của mình. Vì vậy, khả năng trúng thầu của nhà thầu lạ bị ảnh hưởng. Khi nộp hồ sơ dự thầu, các nhà thầu lạ bị gây khó dễ như: đến địa điểm nộp hồ sơ dự thầu được nhận thông báo thay đổi địa điểm nộp hồ sơ dự thầu, làm cho nhà thầu không kịp đến địa điểm mới. Một số trường hợp đến địa điểm hồ sơ dự thầu bị xã hội đen ngăn cản ở vòng ngoài, không cho vào nộp hồ sơ dự thầu. Đặc biệt, có những trường hợp nhà thầu còn bị cướp mất hồ sơ dự thầu (Việt Thắng, 2016).

3.2. Thực trạng quyền bình đẳng trong đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự thầu

Trong quá trình tổ chức đấu thầu, việc đánh giá, xếp hạng nhà thầu là một công đoạn quan trọng, quyết định khả năng trúng thầu của các nhà thầu. Về nguyên tắc, các hồ sơ dự thầu được đánh giá khách quan, công bằng theo đúng các tiêu chí của hồ sơ mời thầu, không có sự phân biệt đối xử giữa các nhà thầu. Tuy vậy, trong thực tiễn, hiện tượng phân biệt đối xử khi đánh giá hồ sơ dự thầu vẫn xảy ra phổ biến.

Tổ chuyên gia khi đánh giá sơ bộ về tính hợp lệ, bỏ qua các lỗi sai sót của nhà thầu quen, nhưng lại cố gắng tìm kiếm các lỗi nhỏ để loại hồ sơ dự thầu của các nhà thầu lạ (Anh Minh, 2018). Khi đánh giá các tiêu chí về năng lực tài chính, kỹ thuật, phương pháp thi công, tổ chuyên gia tìm cách cho điểm thấp để đánh trượt nhà thầu lạ trước khi đánh giá về giá (Ngọc Tuấn, 2018). Trong khi đó, các nhà thầu ruột được tổ chuyên gia chấm điểm cao. Hậu quả của việc phân biệt đối xử trong đánh giá hồ sơ dự thầu ảnh hưởng trực tiếp kết quả lựa chọn nhà thầu. Quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà thầu không có những mối liên hệ chặt chẽ với bên tổ chức đấu thầu không được bảo đảm. Việc phân biệt đối xử trong đánh giá hồ sơ dự thầu cũng là nguyên nhân dẫn đến các kiến nghị, khiếu kiện trong đấu thầu, làm ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án, đội vốn công trình, lãng phí ngân sách nhà nước và môi trường cạnh tranh lành mạnh nói chung.

3.3. Thực trạng quyền bình đẳng về kiến nghị, khiếu nại về kết quả lựa chọn hoặc những vấn đề khác trong đấu thầu

Hiện nay, giải quyết kiến nghị trong đấu thầu trước hết do chủ đầu tư giải quyết. Việc chủ đầu tư bảo vệ quan điểm, hành vi, quyết định của mình cũng như bên mời thầu do chủ đầu tư thành lập là đương nhiên. Nếu không đồng tình với kết quả giải quyết của chủ đầu tư, nhà thầu có quyền kiến nghị đến người có thẩm quyền. Đối với trường hợp kiến nghị về kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà thầu gửi kiến nghị đến Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị. Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị đấu thầu đã được thành lập ở nhiều bộ và địa phương để hỗ trợ cho người có thẩm quyền trong việc giải quyết kiến nghị. Tuy nhiên, quyền quyết định vẫn thuộc về người có thẩm quyền (Quốc hội, 2013). Do người có thẩm quyền và chủ đầu tư đều thuộc về bên tổ chức đấu thầu, có trách nhiệm và quyền lợi gắn liền với nhau, nên người có thẩm quyền thường bảo vệ hoặc giải quyết có lợi cho phía chủ đầu tư. Cơ chế giải quyết kiến nghị theo kiểu khép kín, không có cơ quan giám sát, thẩm tra, kiểm định làm cho kiến nghị của nhà thầu khó được giải quyết thỏa đáng.

Nhà thầu nếu không thành công trong việc giải quyết kiến nghị để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nhiều nhà thầu không muốn lựa chọn giải pháp kiện ra tòa án nhân dân vì làm ảnh hưởng đến mối quan hệ với chủ đầu tư, người có thẩm quyền cũng như ảnh hưởng đến uy tín của nhà thầu. Một số nhà thầu lựa chọn việc khởi kiện ra tòa án nhân dân để đòi quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án cũng có nhiều nơi hiểu khác nhau dẫn đến các vụ án bị kéo dài (Đại Hưng, 2017).

4. Các giải pháp nhằm bảo đảm quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp

Thực trạng quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu trong đấu thầu xây lắp bị xâm phạm, bắt nguồn từ một số nguyên nhân như:

- Đấu thầu khép kín, hình thức. Chủ đầu tư đã nhắm trước nhà thầu thực hiện công trình, nên có tình tìm mọi cách để hạn chế sự tham gia của các nhà thầu lạ, tìm mọi cách để đánh trượt hồ sơ dự thầu của nhà thầu lạ;

- Cơ chế phòng ngừa hành vi cản trở, xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu bằng các mức chế tài pháp lý đối với người vi phạm chưa phát huy tác dụng. Chế tài xử phạt hành chính còn quá nhẹ. Gói thầu xây lắp thường có giá trị lớn, nên giá trị mà nhà thầu trả cho bên mời thầu cũng lớn hơn rất nhiều với mức xử phạt vài triệu nếu có. Hơn nữa, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính này chủ yếu lại thuộc về người có thẩm quyền. Nếu có lợi ích từ việc thông đồng trong đấu thầu, người có thẩm quyền chỉ xử phạt bên mời thầu trong trường hợp bất đắc dĩ. Chế tài hình sự đã được Quốc hội (2015) quy định, nhưng để xử lý được cần phải có các cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực đặc biệt này. Chế tài kỷ luật tỏ ra không có hiệu quả răn đe khi giá trị nhận được từ hành vi thông đồng là rất lớn;

- Cơ chế phát hiện, loại trừ hành vi cản trở, xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng của các nhà thầu thông qua thẩm định, giám sát, thanh tra đấu thầu chưa hiệu quả. Hồ sơ mời thầu, kết quả đánh giá và xếp hạng nhà thầu đều phải qua khâu thẩm định trước khi người có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu. Tổ thẩm định do người có thẩm quyền lựa chọn, chịu ảnh hưởng của người có thẩm quyền đối với kết quả thẩm định. Vì vậy, nếu nhà thầu đã có mối liên hệ chặt chẽ với bên tổ chức đấu thầu, thì việc thẩm định này chỉ mang tính hình thức để hợp pháp hóa về mặt thủ tục cho đúng quy trình trước khi duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu. Cơ chế giám sát từ bên ngoài đối với đấu thầu bị các chủ đầu tư hạn chế với lý do bảo mật thông tin. Thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về đấu thầu còn ít được triển khai, nếu có phát hiện thì cuộc đấu thầu đã xong, hợp đồng đã ký kết, nhà thầu đang thi công công trình hoặc công trình đã hoàn thiện;

- Cơ chế bảo vệ nhà thầu khi có dấu hiệu bị xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng thông qua giải quyết kiến nghị, tranh chấp trong đấu thầu chưa hiệu quả. Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu mang tính khép kín, bên giải quyết kiến nghị đều tìm mọi cách lý giải bên tổ chức đấu thầu là đúng. Việc khởi kiện ra tòa án nhân dân để xem xét hành vi vi phạm của bên tổ chức đấu thầu gặp khó khăn vì nhà thầu khó tìm bằng chứng vi phạm của bên tổ chức đấu thầu. Theo đuổi vụ kiện cũng lãng phí thời gian, tiền bạc và quan trọng hơn cả là ảnh hưởng đến cơ hội của nhà thầu khi tham gia các gói thầu sau này. Các chủ đầu tư, bên mời thầu, không ưa các nhà thầu hay kiện cáo bên tổ chức đấu thầu, sẽ tìm mọi cách loại bỏ, ngăn cản nhà thầu đó tham dự đấu thầu.

Để khắc phục những hạn chế trong tổ chức đấu thầu xây lắp hiện nay, bảo đảm quyền cạnh tranh bình đẳng cho các nhà thầu khi tham gia vào các gói đấu thầu xây lắp, cần thực hiện một số giải pháp sau:

4.1. Chống đấu thầu hình thức, đấu thầu khép kín giữa chủ đầu tư và các nhà thầu quen biết, bảo đảm quyền được tham gia đấu thầu của các nhà thầu

Cần áp dụng mạnh mẽ ứng dụng công nghệ vào đấu thầu, giảm sự can thiệp của con người vào quá trình đấu thầu. Thông tin mời thầu, hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, phần mềm chấm điểm hồ sơ dự thầu đều có thể áp dụng công nghệ điện tử, tin học. Nếu áp dụng công nghệ điện tử, chủ đầu tư không cản trở, can thiệp được vào việc tiếp cận thông tin đấu thầu, mua hồ sơ mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu;

Cần giám sát chặt chẽ việc lập dự toán trong kế hoạch đấu thầu. Nếu dự toán tốt, sát với chi phí thực tế, giám sát thi công chặt, nhà thầu tìm cách chi phần trăm cho bên tổ chức đấu thầu là bị lỗ; Cần quy định các trường hợp bắt buộc phải lựa chọn nhà thầu qua trung tâm đấu thầu hoặc đại lý đấu thầu. Các cơ sở tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp sẽ giảm can thiệp của chủ đầu tư, người có thẩm quyền đối với quá trình lựa chọn nhà thầu. Khi không nhận được các lợi ích phần trăm từ nhà thầu, bị giám sát chặt chẽ, các chủ đầu tư cũng sẽ không thiết tha với việc tự tổ chức đấu thầu và hình thức đấu thầu qua trung tâm hoặc đại lý sẽ phổ biến.

4.2. Phòng ngừa các hành vi cản trở, xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng trong đấu thầu

Cần tăng cường công khai, minh bạch toàn bộ quá trình đấu thầu bằng việc quy định chế độ lưu trữ dữ liệu đấu thầu, các nội dung phải công khai rộng rãi trên mạng đấu thầu quốc gia;

(Ngoài các trường hợp nhà thầu tham dự gói thầu tham dự gói thầu do mình làm bên mời thầu, chủ đầu tư; Nhà thầu và chủ đầu tư, bên mời thầu cùng thuộc một cơ quan hoặc tổ chức trực tiếp quản lý hoặc có cổ phần vốn góp của nhau; Nhà thầu và đơn vị tư vấn cho gói thầu đó cùng thuộc một cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hoặc có cổ phần, vốn góp của nhau hoặc có cùng cổ phần, vốn góp tại doanh nghiệp khác không được tham gia vào đấu thầu nhằm bảo đảm cạnh tranh như hiện nay (Chính phủ, 2014), cần quy định thêm các trường hợp không được tham gia đấu thầu vì có xung đột lợi ích, không bảo đảm cạnh tranh, như trường hợp nhà thầu có liên quan đến chủ thể cung ứng dịch vụ tư vấn chuẩn bị hoặc thực hiện dự án đầu tư xây dựng có gói thầu theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới (Work Bank, 2017, 5) hoặc có liên quan dưới góc độ cá nhân thuộc nhà thầu (hiện mới chỉ là người đại diện theo pháp luật của nhà thầu) với cá nhân bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền, tổ chuyên gia, tổ thẩm định, tư vấn hoặc giữa nhà thầu phụ với bên tổ chức đấu thầu theo khuyến nghị của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA, 2012).

Cần tuyên truyền, phổ biến các hành vi phạm tội trong hoạt động đấu thầu theo quy định của Quốc hội (2015). Các chủ thể sẽ cân nhắc giữa lợi ích thu được nếu có với các mức hình phạt nặng và lựa chọn hành vi xử sự đúng đắn.

4.3. Để phát hiện các hành vi cản trở, xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng trong đấu thầu

Cần tăng cường trách nhiệm giám sát, kiểm tra, thanh tra để kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Xây dựng cơ chế giám sát nội bộ và giám sát độc lập ngoài quá trình đấu thầu. Giám sát nội bộ được thực hiện thông qua việc giám sát của chính đơn vị và các nhân viên trong đơn vị đối với hành vi và quyết định của người trực tiếp tham gia vào đấu thầu, như: người có thẩm quyền, người đại diện chủ đầu tư, người đại diện doanh nghiệp tham gia đấu thầu… Các chủ thể tham gia vào bên tổ chức đấu thầu cũng giám sát lẫn nhau, các nhà thầu tham dự cũng giám sát lẫn nhau và các nhà thầu giám sát hoạt động của bên tổ chức đấu thầu. Giám sát từ bên ngoài đến quá trình đấu thầu bằng hoặt động giám sát của cơ quan quản lý chuyên ngành về đấu thầu, cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán, cơ quan dân cử, các hiệp hội và cộng đồng xã hội.

4.4. Để xử lý có hiệu quả các hành vi cản trở, xâm phạm quyền cạnh tranh bình đẳng trong đấu thầu

Cần quy định lại thẩm quyền và thủ tục giải quyết kiến nghị của nhà thầu. Ngoài việc duy trì thẩm quyền giải quyết kiến nghị của bên tổ chức đấu thầu (chủ đầu tư, người có thẩm quyền), cần phải có cơ quan giải quyết kiến nghị độc lập (không như Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị đấu thầu hiện nay, chỉ có vai trò tư vấn cho người có thẩm quyền). Cơ quan giải quyết kiến nghị độc lập này phải là pháp nhân độc lập, có trụ sở để tạo điều kiện cho các nhà thầu liên hệ và gửi kiến nghị. Sau khi tiếp nhận kiến nghị, cơ quan giải quyết kiến nghị sẽ thành lập các Hội đồng giải quyết kiến nghị theo từng vụ việc, có các thành viên đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu, đại diện của hiệp hội nhà thầu, các chuyên gia đấu thầu, bảo đảm việc giải quyết độc lập, chỉ tuân theo pháp luật.

Ngoài việc giải quyết kiến nghị thông qua cơ quan giải quyết kiến nghị độc lập trong đấu thầu này, nhà thầu khi phát hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh có quyền thực hiện thủ tục khiếu nại vụ việc cạnh tranh theo quy định chung của pháp luật cạnh tranh (Quốc hội, 2018).

Bên cạnh đó, cũng cần quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm nhưng không thực hiện việc xử lý vi phạm trong đấu thầu. Quy định này sẽ tránh trường hợp các chủ thể thuộc bên tổ chức đấu thầu, có cùng lợi ích chung nên bao che hoặc không xử lý đúng các vi phạm trong quá trình tổ chức đấu thầu.

Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Hữu Mạnh
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257(II) tháng 11/2018

Nghiên cứu: Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đặc thù
Nghiên cứu: Lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đặc thù
Tóm tắt
Abstract: Discussion on Foreign Workers in Specific Fields Increasing numbers of foreign workers in Vietnam and the management of foreign workers are complex issues, intertwining many legal aspects. The study of labor law provisions on foreign workers, especially foreign workers working in specific fields, needs to be more specialized. Labor relations with foreign workers are both contractual and administrative. When performing specific jobs, specific requirements arise. Foreign workers in specific fields are governed by national labor laws, specialized laws, international treaties and may also be subject to the rules and regulations of international professional associations. Keywords: Foreign workers, Specific fields, Regulatory requirements.

1. Giới thiệu 

Lao động nước ngoài là những người có quốc tịch nước ngoài đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để làm việc tại Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động. Việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động với lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù thì về nguyên tắc vẫn phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật lao động. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của công việc nên phải có quy định riêng phù hợp. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã ban hành các chính sách thu hút, hỗ trợ đối với lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao khi nguồn nhân lực trong nước chưa đáp ứng được. Các chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, bổ sung thêm quyền và lợi ích, và còn có thể có sự vinh danh những giá trị tinh thần. Ngoài ra, trong một số loại công việc thì người lao động nước ngoài và người sử dụng lao động còn phải tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành, quy chế của tổ chức nghề nghiệp hoặc điều ước mà quốc gia là thành viên. Cùng với tính chất của công việc thì do có sự khác biệt về quốc tịch, hoặc do lao động luôn có sự di chuyển quốc tế, hoặc do phải tuân thủ các quy tắc, điều lệ của các hiệp hội, nghề nghiệp thì quan hệ lao động càng trở nên phức tạp. Những đặc điểm đặc thù về công việc, điều kiện chủ thể và cách thức quản lý nhà nước có tác động, ảnh hưởng lớn đến thỏa thuận của các bên và cũng chính là những vấn đề pháp lý cần phải làm rõ khi sử dụng lao động nước ngoài.

Như vậy, điều chỉnh lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù bắt buộc phải chú ý những vấn đề: (1) Đáp ứng các điều kiện để làm việc tại Việt Nam theo quy định chung đối với lao động nước ngoài; (2) Áp dụng pháp luật điều chỉnh theo nguyên tắc của luật lao động, luật chuyên ngành, luật quốc tế, quy chế nghề nghiệp theo từng lĩnh vực ngành nghề, chính sách quản lý của nhà nước; (3) Việc quản lý đòi hỏi sự phối hợp chức năng của các bộ, ngành liên quan đến nghề nghiệp, lĩnh vực công việc.

Bài viết không đề cập đến những vấn đề cơ bản khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động với lao động nước ngoài và những vấn đề chung trong quản lý lao động nước ngoài mà lựa chọn bàn về lao động nước ngoài hợp pháp trong một số lĩnh vực đặc thù: lao động nước ngoài chuyên môn cao (chuyên gia nước ngoài); lao động nước ngoài trong lĩnh vực thể thao chuyên nghiệp (cầu thủ nước ngoài); lao động có tính chất quốc tế (lao động hàng hải). Trên cơ sở những phân tích này, bài viết xác định những yêu cầu cần thiết trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật lao động về lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù.

2. Quy định về lao động nước ngoài trong một số lĩnh vực đặc thù

2.1. Chuyên gia nước ngoài hoạt động khoa học công nghệ tại Việt Nam

Di chuyển lao động chuyên môn cao nước ngoài giữa các nước mang lại hiệu quả tích cực cho nước tiếp nhận. Việt Nam luôn coi đây là chính sách ưu tiên để bổ sung sự thiết hụt lao động chuyên môn cao trong nước. Nhà nước đã ban hành Nghị định về thu hút cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam (Chính phủ, 2014). Nội dung văn bản quy định chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ về xuất nhập cảnh và cư trú; tuyển dụng, lao động, học tập; tiền lương; nhà ở; tiếp cận thông tin; khen thưởng, vinh danh và một số chế độ khác.

Để được hưởng các chính sách này thì chuyên gia nước ngoài phải được công nhận về trình độ học vấn, kinh nghiệm, có khả năng đóng góp cho nền học thuật Việt Nam, cụ thể là phải đáp ứng một trong các yêu cầu: (1) Có sáng chế hoặc giống cây trồng được đăng ký quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện tại Việt Nam; (2) Có công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ xuất sắc phù hợp với nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện tại Việt Nam; (3) Có bằng tiến sỹ, đã và đang giảng dạy, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ tại cơ sở nghiên cứu có uy tín ở nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại Việt Nam; (4) Có bằng tiến sỹ, đã làm việc trên 3 năm ở vị trí nghiên cứu khoa học tại chương trình, dự án hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ hoặc bộ phận nghiên cứu của doanh nghiệp có uy tín ở nước ngoài (Chính phủ, 2014, Khoản 1 Điều 3). Trường hợp đặc biệt, nếu không đáp ứng điều kiện nhưng căn cứ nhu cầu khoa học và công nghệ và theo đề nghị của cơ quan sử dụng thì Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc sử dụng. Các tiêu chí về trình độ, bằng cấp, uy tín của cơ sở nghiên cứu là căn cứ tiên quyết để xác định chuyên gia đủ kiều kiện, tuy nhiên chính vấn đề này hiện nay ở nhiều lĩnh vực khoa học còn chưa có khung chuẩn với nhiều quan điểm. Vấn đề khó xác định nữa chính là sự “phù hợp” được nêu ra trong mỗi yêu cầu.

Các chính sách hỗ trợ chuyên gia nước ngoài bao gồm các chế độ trong công tác và sinh hoạt, các chính sách này đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật nên khi giao kết hợp đồng lao động, các bên phải xác định đây là những điều khoản bắt buộc hoặc thường lệ. Quy định hiện hành chỉ đưa ra điều kiện ở mức tối thiểu của các chế độ này, không hạn chế mà khuyến thích cao hơn tùy thuộc vào điều kiện của đơn vị sử dụng. Nhưng cũng cần lưu ý là việc quy định “cao hơn, tốt hơn” cũng có thể khó xác định và có thể trở thành điều khoản ràng buộc trái với nguyên tắc tự do hợp đồng và ngược lại, nếu các đơn vị chỉ cố gắng áp dụng tốt nhất theo điều kiện của mình thì có thể cũng chưa tạo được ưu đãi thực sự.

Chuyên gia nước ngoài được hưởng lương theo thỏa thuận nhưng mức lương thỏa thuận được xác định trên cơ sở mức độ ưu tiên của nhiệm vụ; tính chất, quy mô và tầm quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ; trình độ, năng lực, hiệu quả đóng góp của cá nhân. Chuyên gia nước ngoài được hưởng ưu đãi tối đa về thuế, được chuyển các khoản thu nhập hợp pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo hiệu quả công việc, chuyên gia nước ngoài được tạo mọi điều kiện tốt nhất về thông tin, các điều kiện thuận lợi về nơi làm việc, tài liệu, dịch vụ internet, trang thiết bị, vật tư, phòng thí nghiệm, thực nghiệm để triển khai nhiệm vụ khoa học, bố trí phương tiện đi lại nếu chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia đặc biệt quan trọng, v.v...

Bên cạnh hỗ trợ vật chất thì nhà nước có chính sách khen thưởng với giá trị tinh thần. Chuyên gia nước ngoài có cống hiến đối với sự phát triển khoa học, công nghệ sẽ được nhà nước Việt Nam xem xét tặng các danh hiệu, kỷ niệm chương về khoa học, công nghệ hoặc được vinh danh, khen thưởng theo quy định pháp luật (Chính phủ, 2014, Điều 9). Các chế độ khen thưởng, vinh danh này chưa có nội dung cụ thể và cũng lại phải căn cứ vào những văn bản khác. Tổ chức Việt Nam chỉ được tuyển dụng chuyên gia đúng theo lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của quốc gia và công việc phải là những công việc lãnh đạo hoặc chủ trì thực hiện (Chính phủ, 2014, Điều 5). Cần cân nhắc việc tuyển dụng các chức danh tư vấn cao cấp trong những lĩnh vực mà khoa học Việt Nam còn hạn chế.

Chuyên gia nước ngoài và thành viên gia đình họ được cấp thị thực nhiều lần hoặc thẻ tạm trú với thời hạn tối đa theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Nếu chuyên gia nước ngoài được tặng huân chương hoặc danh hiệu vinh dự nhà nước hoặc đang tạm trú tại Việt Nam sẽ được xem xét cấp thẻ thường trú theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (Chính phủ, 2014, Điều 4). Nên quy định khi được tặng huân chương, danh hiệu vinh dự nào thì “được cấp thẻ” chứ không phải “sẽ được xem xét” cấp thẻ. Về thủ tục cấp thẻ cũng phải quy định ở mức ưu tiên, tạo thuận lợi hơn. Hiện tại, mới có thông tư quy định về quy trình, thủ tục cấp giấy phép lao động rút gọn cho chuyên gia nước ngoài (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2015).

Các tổ chức tuyển dụng và cơ quan liên quan có nghĩa vụ chung của cá nhân, tổ chức sử dụng lao động nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các chính sách ưu đãi tuy nhiên lại chưa có cơ chế bảo đảm thực hiện (Chính phủ, 2014, Điều 13 và Điều 14).

2.2. Lao động nước ngoài trong lĩnh vực thể thao chuyên nghiệp

Thể thao chuyên nghiệp là hoạt động thể thao, trong đó huấn luyện viên, vận động viên lấy huấn luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao là nghề của mình (Quốc hội, 2018, Điều 44). Lao động nước ngoài trong lĩnh vực này chính là những huấn luyện viên và những vận động viên chuyên nghiệp có quốc tịch nước ngoài và người sử dụng lao động là những câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp. Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp là thành viên của liên đoàn thể thao quốc gia nên việc tuyển dụng phải tuân theo cả các quy tắc điều lệ riêng của liên đoàn thể thao chuyên nghiệp.

Quyền và nghĩa vụ của vận động viên và huấn luyện viên chuyên nghiệp được thực hiện theo hợp đồng lao động đã ký với câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật lao động và phù hợp với quy định của liên đoàn thể thao quốc tế mà câu lạc bộ thành viên. Các nội dung khác biệt với hợp đồng lao động thông thường là giá trị sức lao động (khó xác định vì theo tiêu chí của các câu lạc bộ, mùa giải, phong độ); quy định tiền lương, thưởng, thời hạn hợp đồng, chi phí đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, v.v… đều tính đến yếu tố đặc thù của thể thao. Các hiệp hội thể thao còn có các thỏa thuận riêng về các vấn đề này. Trong quản lý đối với vận động viên thể thao chuyên nghiệp nước ngoài cần lưu ý vấn đề đại diện. Đại diện thông qua hợp đồng đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích khi vận động viên nước ngoài không có hiểu biết cần thiết và kỹ năng đàm phán với đại diện câu lạc bộ, làm đại diện trong các quan hệ công chúng, các thương vụ và bắt buộc phải có đối với vận động viên chưa thành niên. Có một số liên đoàn thể thao quốc gia có những quy định riêng về đại diện thể thao chuyên nghiệp. Pháp luật lao động và pháp luật thể thao Việt Nam không có quy định này và việc đại diện thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự. Giữa các câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp còn có thể có hợp đồng chuyển nhượng các vận động viên, huấn luyện viên chuyên nghiệp. Việc chuyển nhượng giữa hai câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp trong nước được thực hiện bằng hợp đồng chuyển nhượng khi hợp đồng lao động còn hiệu lực. Trong lĩnh vực bóng đá chuyên nghiệp, Quy chế bóng đá chuyên nghiệp được coi là quy định khung khi giao kết hợp đồng lao động bóng đá chuyên nghiệp, chuyển nhượng, cho mượn cầu thủ và đại diện cho cầu thủ nước ngoài tại Việt Nam (Liên đoàn bóng đá Việt Nam, 2015). Về nguyên tắc, câu lạc bộ phải ký kết hợp đồng lao động với lao động nước ngoài theo quy định pháp luật lao động, phù hợp với các quy định của Liên đoàn bóng đá Việt Nam và các tổ chức bóng đá quốc tế mà Liên đoàn bóng đá Việt Nam là thành viên. Nội dung của hợp đồng lao động phải bao gồm đầy đủ các nội dung trong mẫu hợp đồng lao động ban hành kèm theo quy chế.

Cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp phải tuân thủ Điều lệ và các quy định của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC), Liên đoàn bóng đá Việt Nam và Đơn vị tổ chức giải. Cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp được Liên đoàn bóng đá Việt Nam cấp Giấy chứng nhận hành nghề cầu thủ chuyên nghiệp khi cầu thủ đáp ứng được các điều kiện: Có hợp đồng lao động với câu lạc bộ, đội bóng chuyên nghiệp; Có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để thi đấu bóng đá chuyên nghiệp do bệnh viện đa khoa cấp tỉnh trở lên cấp; Không trong thời gian bị đình chỉ, cấm thi đấu theo quyết định kỷ luật của Liên đoàn bóng đá Việt Nam hoặc quyết định kỷ luật của câu lạc bộ đã được Liên đoàn bóng đá Việt Nam chấp thuận (Liên đoàn bóng đá Việt Nam, 2015, Khoản 1 Điều 19). Cầu thủ nước ngoài còn phải có Giấy chứng nhận chuyển nhượng quốc tế (ITC) và Giấy phép lao động. Ký kết hợp đồng lao động bóng đá chuyên nghiệp với cầu thủ nước ngoài cần tuân thủ quy định về tư cách và chuyển nhượng cầu thủ của FIFA (Liên đoàn bóng đá Việt Nam, 2015, Điều 17).

Chuyển nhượng cầu thủ là thỏa thuận giữa hai câu lạc bộ và cầu thủ tại thời điểm hợp đồng lao động bóng đá chuyên nghiệp còn hiệu lực, theo đó câu lạc bộ còn hợp đồng lao động với cầu thủ (bên chuyển nhượng) chuyển giao quyền ký hợp đồng lao động với cầu thủ cho câu lạc bộ mới (bên nhận chuyển nhượng). Câu lạc bộ nhận chuyển nhượng phải trả tiền cho câu lạc bộ chuyển nhượng theo thỏa thuận. Cầu thủ được quyền chuyển nhượng trong nước và quốc tế theo quy chế và phù hợp với các quy định của FIFA, AFC, Liên đoàn bóng đá Việt Nam và pháp luật Việt Nam. Cầu thủ có thể được câu lạc bộ của cầu thủ cho câu lạc bộ khác mượn trên cơ sở thỏa thuận bằng hợp đồng giữa cầu thủ và những câu lạc bộ có liên quan. Việc cho mượn cầu thủ trên cơ sở thỏa thuận được coi như chuyển nhượng tạm thời. Các quy định áp dụng trong chuyển nhượng cầu thủ cũng được áp dụng trong mượn cầu thủ.

Cần phải làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng và có quy định cụ thể về hợp đồng lao động, hợp đồng chuyển nhượng cầu thủ, vận động viên nước ngoài vì đây là căn cứ pháp lý quan trọng bảo vệ quyền lợi của các bên. Hiện nay luật chuyên ngành chỉ có quy định mang tính chất nguyên tắc về việc ký kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng chuyển nhượng phải phù hợp điều ước, thông lệ quốc tế, phù hợp quy định của liên đoàn thể thao quốc tế và không trái pháp luật (Quốc hội, 2018, Điều 47 và Điều 48). Vậy khi có mâu thuẫn giữa pháp luật lao động và quy định của luật chuyên ngành hoặc của liên đoàn thể thao quốc tế xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động thể thao thì sẽ áp dụng theo nguyên tắc nào. Điều hạn chế nữa là trong quy định của Quốc hội (2012) cũng không có điều khoản chung khẳng định việc các luật chuyên ngành không được trái với nguyên tắc của Bộ luật lao động.

2.3. Lao động nước ngoài trong lĩnh vực hàng hải

Lao động trong ngành hàng hải là lao động có tính chất quốc tế. Người lao động trong lĩnh vực hàng hải làm việc trên tàu của những quốc gia khác nhau. Có nhiều lao động quốc tịch khác nhau làm việc trên một tàu biển và ngoài ra tàu biển hoạt động ở cảng biển của quốc gia nào cũng phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó. Để đảm bảo những tiêu chuẩn và điều kiện chung về lao động hàng hải, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành nhiều công ước về lao động hàng hải trong đó đặc biệt quan trọng là Công ước lao động hàng hải được thông qua ngày 7 tháng 2 năm 2006 và Việt Nam đã phê chuẩn ngày 8 tháng 3 năm 2013. Công ước lao động hàng hải xác định việc tuyển dụng thuyền viên có 4 vấn đề cơ bản (ILO, 2006, Đề mục 1):

Tuổi lao động tối thiểu: Tuổi lao động tối thiểu là 16 tuổi, nghiêm cấm thuyền viên dưới 18 tuổi làm việc ban đêm. Nghiêm cấm thuê mướn, tuyển dụng hoặc làm việc đối với thuyền viên dưới 18 tuổi nếu công việc có thể nguy hiểm đến sức khoẻ hoặc an toàn của họ. Các loại công việc đó được xác định theo các văn bản pháp luật hoặc các quy định quốc gia hoặc bởi cơ quan có thẩm quyền, sau khi tham vấn với các tổ chức liên quan của chủ tàu và thuyền viên, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan. Chứng nhận y tế: Quy định về Giấy chứng nhận y tế nhằm mục đích đảm bảo mọi thuyền viên có sức khoẻ phù hợp với các công việc trên biển. Thuyền viên bị từ chối cấp giấy chứng nhận y tế hoặc hạn chế khả năng làm việc, phải được tạo cơ hội để được kiểm tra tiếp theo bởi cơ sở y tế độc lập khác hoặc một trọng tài y tế độc lập. Trong các trường hợp khẩn cấp, cơ quan có thẩm quyền có thể cho phép thuyền viên làm việc mà không có giấy chứng nhận y tế hợp lệ cho đến khi tàu ghé vào cảng tiếp theo, mà ở đó thuyền viên có thể nhận được giấy chứng nhận y tế của một cơ sở y tế có đủ năng lực. Điều kiện là thời gian cho phép đó không quá ba tháng và thuyền viên đó sở hữu giấy chứng nhận y tế mới hết hạn. Công ước cũng quy định về việc giấy chứng nhận y tế hết hạn khi tàu đang hành trình.

Bằng cấp chuyên môn của thuyền viên: Quy định về đào tạo và chứng nhận chuyên môn nhằm mục đích đảm bảo thuyền viên được đào tạo hoặc có chuyên môn thực hiện nhiệm vụ trên tàu. Thuyền viên không được phép làm việc trên tàu trừ khi đã được đào tạo đầy đủ về an toàn cá nhân trên tàu. Đào tạo và cấp giấy chứng nhận phù hợp với các văn kiện bắt buộc được Tổ chức Hàng hải quốc tế thông qua. Hợp đồng lao động của thuyền viên: Thuyền viên phải có một hợp đồng lao động được ký kết bởi cả thuyền viên và chủ tàu hoặc một đại diện của chủ tàu (hoặc, nếu họ không phải là người được tuyển dụng thì phải có bằng chứng khế ước hoặc thỏa thuận tương tự) cung cấp cho họ các điều kiện sống và làm việc phù hợp trên tàu theo quy định của Công ước. Thuyền viên ký kết hợp đồng lao động phải có cơ hội kiểm tra và tìm kiếm sự tham vấn về thỏa thuận trước khi ký, cũng như các cách thức khác nếu cần thiết để đảm bảo rằng họ tham gia hợp đồng một cách tự do với nhận thức đầy đủ về các quyền lợi và trách nhiệm của họ. Mỗi chủ tàu và thuyền viên liên quan phải giữ một bản hợp đồng lao động gốc đã ký. Phải có các biện pháp đảm bảo rằng các thông tin rõ ràng về các điều kiện tuyển dụng của thuyền viên trên tàu có thể nhận được dễ dàng từ các thuyền viên, kể cả thuyền trưởng; và các thông tin đó, gồm một bản sao hợp đồng lao động của thuyền viên, cũng có thể được các quan chức của cơ quan có thẩm quyền, gồm cả các cơ quan có thẩm quyền tại các cảng mà tàu ghé vào, tiếp cận và xem xét. Thuyền viên phải nhận được tài liệu bao gồm hồ sơ về quá trình tuyển dụng của họ trên tàu.

Để phù hợp và tương thích với những thay đổi quan trọng của pháp luật hàng hải, Việt Nam ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam mới thay thế Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005 (Quốc hội, 2015). Bộ luật có riêng Mục 2 về Thuyền viên, quy định về thuyền viên làm việc trên tàu biển; nghĩa vụ và quyền lợi của thuyền viên; chế độ lao động; hợp đồng lao động; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, tết của thuyền viên; tiền lương, phụ cấp và các khoản thu nhập khác của thuyền viên; hồi hương thuyền viên; thực phẩm và nước uống; chăm sóc sức khỏe cho thuyền viên; trách nhiệm của chủ tàu đối với thuyền viên bị tai nạn lao động hàng hải, bệnh nghề nghiệp; khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động hàng hải và bệnh nghề nghiệp; phòng ngừa tại nạn lao động hàng hải và bệnh nghề nghiệp; đào tạo, huấn luyện thuyền viên (Quốc hội, 2015, từ Điều 59 đến Điều 72).

Thuyền viên nước ngoài làm việc trên tàu Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu chung về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam vì làm việc trên tàu mang cờ của nước nào có nghĩa là làm việc trên lãnh thổ của quốc gia đó theo nguyên tắc áp dụng xung đột pháp luật khi thuê thuyền viên (Quốc hội, 2015, Điều 2 và Điều 3). Ngoài ra, còn phải phù hợp với các quy định về lao động hàng hải theo Công ước lao động hàng hải 2006 và Công ước quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ và trực ca cho thuyền viên của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) năm 1978 mà Việt Nam là thành viên.

Thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam phải đủ điều kiện: (1) Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài được phép làm việc trên tàu biển Việt Nam; (2) Có đủ tiêu chuẩn sức khỏe, tuổi lao động và chứng chỉ chuyên môn; (3) Được bố trí đảm nhận chức danh trên tàu biển; (4) Có sổ thuyền viên; (5) Có hộ chiếu để xuất cảnh hoặc nhập cảnh nếu được bố trí làm việc trên tàu biển hoạt động tuyến quốc tế (Quốc hội, 2015, Khoản 2 Điều 59). Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết về tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định các điều kiện về tiêu chuẩn chuyên môn, chứng chỉ chuyên môn, đào tạo, huấn luyện thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.

Trước khi làm việc trên tàu biển, thuyền viên và chủ tàu phải ký kết hợp đồng lao động bao gồm nội dung cơ bản theo quy định chung và phải có các nội dung: (1) Việc hồi hương của thuyền viên; (2) Bảo hiểm tai nạn; (3) Tiền thanh toán nghỉ hàng năm; (4) Điều kiện chấm dứt hợp đồng lao động (Quốc hội, 2015). Vì công việc bắt buộc phải di chuyển nên “quyền hồi hương” là quyền đặc biệt của thuyền viên mục đích đảm bảo thuyền viên được trở về nhà (Quốc hội, 2015, Khoản 2 Điều 62). Chủ tàu có trách nhiệm bố trí cho thuyền viên hồi hương và thanh toán chi phí phù hợp với các quy định của Công ước trong các trường hợp: Hợp đồng lao động hết hạn; Thuyền viên bị ốm đau, tai nạn lao động; Tàu bị chìm đắm; Bán tàu hoặc thay đổi đăng ký tàu; Tàu hoạt động tại khu vực chiến tranh mà thuyền viên không đồng ý tiếp tục làm việc; Các trường hợp theo thỏa thuận (Quốc hội, 2015, Khoản 1 Điều 66). Chủ tàu có trách nhiệm bố trí cho thuyền viên hồi hương kể cả trong trường hợp thuyền viên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hoặc bị xử lý kỷ luật lao động sa thải (thuyền viên phải hoàn trả chi phí cho chủ tàu). Do tính đặc thù và tính quốc tế, nên còn có nhiều quy định khác biệt về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, tết, tiền lương v.v... đối với lao động hàng hải.

Việt Nam đã tham gia Công ước lao động hàng hải 2006 nhưng lại chưa tham gia các công ước về lao động di trú và các công ước về tiêu chuẩn lao động khác có liên quan. Bộ luật hàng hải Việt Nam lại là Bộ luật về kinh tế nên nhiều vấn đề về lao động hàng hải (Ví dụ: Mục 2 Chương III từ điều 59 đến Điều 72 tại khoản 4,5 điều 59; khoản 9 điểu 66 , khoản 4 điều 67 v.v...) quy định giao trách nhiệm cho các Bộ chuyên ngành (Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Bộ Giao thông vận tải v.v...) ban hành thông tư hướng dẫn. Quy định như vậy là thiếu tính hệ thống và giảm hiệu lực của Bộ luật, vì vậy cần sớm có nghị định chung về chế độ lao động đối với lao động hàng hải.

3. Yêu cầu đối với xây dựng, hoàn thiện pháp luật lao động về lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù

3.1. Pháp luật lao động điều chỉnh lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù phải đáp ứng với yêu cầu toàn cầu hóa về di chuyển lao động quốc tế

Khi tham gia vào xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng nỗ lực hơn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Một trong những công việc quan trọng và cấp thiết là phải sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản pháp luật về lao động và thương mại còn chưa đồng bộ, hệ thống để thực hiện các cam kết. Pháp luật lao động về lao động nước ngoài cũng thuộc phạm vi sửa đổi, bổ sung, tiếp cận với pháp luật quốc tế đặc biệt là các công ước của ILO, Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về lao động di trú. Nhìn chung, những vấn đề pháp lý về lao động nước ngoài càng trở nên phức tạp và khó xác định (chưa kể lao động nước ngoài bất hợp pháp). Những tác động đáng kể đến việc xây dựng pháp luật lao động về lao động nước ngoài là có thêm nhiều công việc di chuyển quốc tế, hình thành các ngành nghề được phép di chuyển trong khu vực.

Cũng do nhiều nguyên nhân mà các quy định của pháp luật lao động Việt Nam vẫn chưa thực sự tương thích với với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên. Việt Nam cũng chưa tham gia các công ước quốc tế quan trọng về lao động di trú: Công ước số 97 về người lao động di trú năm 1952 của ILO; Công ước số 143 về di trú trong những điều kiện bị lạm dụng, xúc tiến bình đẳng cơ may và đối xử với người lao động di trú năm 1978 của ILO; và Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ năm 1990 của Liên hiệp quốc. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia trong quan hệ pháp luật lao động (Quốc hội, 2012, Điều 3), nhưng Việt Nam cũng chưa tham gia công ước Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và việc bảo vệ quyền được tổ chức năm 1948 của ILO dù quyền này được pháp luật quốc tế coi là quyền cơ bản chính đáng của người lao động, đặc biệt là đối với người lao động di trú. 3.2. Pháp luật lao động về lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù phải phù hợp với tiêu chuẩn chung của pháp luật lao động quốc tế và khu vực

Pháp luật lao động Việt Nam đặt mục tiêu tiếp cận gần hơn với những tiêu chuẩn chung của pháp luật lao động quốc tế. Việt Nam phải đổi mới hoàn thiện chính sách về lao động để thực hiện các yêu cầu trong quan hệ hợp tác nhưng cũng phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Việc đưa những quy định lao động vào hiệp định thương mại để đảm bảo tiêu chuẩn lao động và quyền lợi người lao động đã được thực hiện. Có quan điểm cho rằng các quy định và tiêu chuẩn chung về lao động sẽ không thúc đẩy tự do thương mại, làm mất lợi thế cạnh tranh của quốc gia có tiêu chuẩn lao động thấp. Cam kết chung về lao động trong Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái bình dương (CPTPP) và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới khác thực chất là đòi hỏi Việt Nam phải đáp ứng với các tiêu chuẩn chung của pháp luật lao động quốc tế vì hầu hết các quốc gia của hiệp định đều là thành viên của ILO và cũng đã đáp ứng các tiêu chuẩn này. Bên cạnh đó, hội nhập khu vực – hội nhập kinh tế ASEAN với thỏa thuận tự do đi lại sẽ giúp người lao động có cơ hội lớn hơn trong việc tìm kiếm các công việc trong khu vực và ngược lại.

Những thỏa thuận đáng chú ý và có tác động trực tiếp nhất đó là việc các lao động có trình độ thuộc 8 nhóm lĩnh vực nghề nghiệp, bao gồm: kế toán, nghề y, nha khoa, điều dưỡng, tư vấn kỹ thuật, kiến trúc, khảo sát, du lịch sẽ được tự do di chuyển giữa các quốc gia trong khối cộng đồng chung (ASEAN, 2012). Các nhóm ngành nghề này chủ yếu là những ngành nghề có kỹ năng cao, có đặc điểm riêng (đặc thù), được luật chuyên ngành cũng như quy tắc hiệp hội quốc tế điều chỉnh. Đi lại tự do có nghĩa là loại bỏ điều kiện giấy phép lao động trong việc tuyển dụng lao động nước ngoài là công dân các nước trong khu vực thuộc 8 nhóm ngành nghề thỏa thuận. Việc di chuyển lao động sẽ có nhiều thuận lợi và ưu đãi, đồng thời cũng xuất hiện yếu tố rào cản mới nếu Việt Nam không kịp thay đổi và đáp ứng. Cơ chế thỏa thuận tự do đi lại về các nhóm ngành nghề cũng sẽ mở rộng thêm với ngành nghề đặc thù khác và Việt Nam bắt buộc phải đảm bảo tiêu chí cạnh tranh cùng với phải đáp ứng tiêu chuẩn lao động quốc tế. 3.3. Cần thiết phải xây dựng, hoàn thiện chế định pháp luật lao động về lao động nước ngoài Pháp luật lao động về lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù được xây dựng trên cơ sở chế định về lao động nước ngoài vì vậy xây dựng, hoàn thiện chế định về lao động nước ngoài là yêu cầu cấp thiết. Trước hết, phải xác định lao động nước ngoài là một chế định độc lập trên cơ sở phân định rõ đối tượng người lao động nước ngoài trong quan hệ pháp luật lao động. Các quy định về lao động nước ngoài trong Bộ luật lao động còn thiếu, các thuật ngữ chưa chính xác, văn bản hướng dẫn thiếu đồng bộ, nội dung mâu thuẫn, điều chỉnh nhiều đối tượng không thuộc quan hệ lao động. Còn có những quy định về lao động nước ngoài ban hành chậm và khó khăn khi thực hiện (Ví dụ: chế độ bảo hiểm xã hội). Lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành, nhưng chính những quy định chuyên ngành cũng lại phức tạp, không tuân thủ nguyên tắc chung, thậm chí mâu thuẫn với Bộ luật lao động (Ví dụ: lĩnh vực thể thao, hàng không). Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018, Bộ luật lao động sửa đổi sẽ được trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 vào tháng 5 năm 2019 (Ủy ban Thường vụ quốc hội, 2018). Dự thảo bộ luật đang được lấy ý kiến rộng rãi tuy nhiên chưa có nhiều thay đổi đối với quy định về lao động nước ngoài.

Cũng cần phải xem xét những sửa đổi khác sẽ áp dụng như thế nào trong quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài. Đối với tầm quan trọng của vấn đề di trú quốc tế cần cân nhắc phương án hệ thống các quy định về lao động nước ngoài bằng một đạo luật. Phải bổ sung Mục hoặc Phần quy định mang tính nguyên tắc về đối tượng lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù. Quy định về lao động nước ngoài còn liên quan đến tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự, tố tụng v.v.... vì vậy, tính hợp lý của chế định không chỉ phù hợp với thực tiễn mà còn phải phù hợp với sự tác động qua lại của các lĩnh vực pháp luật (cụ thể như xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, sở hữu tài sản, chế độ thuế v.v…). Cần đảm bảo các quyền, lợi ích cơ bản của lao động nước ngoài trong những lĩnh vực đặc thù, tránh việc luật chuyên ngành, quy chế nghề nghiệp hạn chế hoặc vi phạm quyền của họ. Tóm lại, Đối với Việt Nam, chính sách pháp luật về lao động nước ngoài là một vấn đề quan trọng trong việc sử dụng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế. Quy định về lao động nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực đặc thù là một nội dung thuộc chế định về lao động nước ngoài. Để xây dựng và hoàn thiện các quy định về lao động nước ngoài trong các lĩnh vực đặc thù thì việc hoàn thiện các quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng là yêu cầu cần thiết và bắt buộc.

Tài liệu tham khảo:
BÀN VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC LĨNH VỰC ĐẶC THÙ
Nguyễn Thu Ba
Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257(II) tháng 11/2018 P.31

Mã giảm giá + Top123.vn

Biểu mẫu liên hệ

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.