Trang chia sẽ: "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo
Top VN - "Mã giảm giá", "Khuyến mãi hôm nay", Danh sách tốt nhất thu thập nguồn đáng tin cậy, Chia sẻ Kinh nghiệm tham khảo

Tìm > "Tài Chính"

Bài học Kinh doanh Bán hàng Online Cần làm gì Chuyên đề Chuyện tình cảm Chuyện vợ chồng Cơ hội Kinh doanh Có nên làm Có nên mua Đắc nhân tâm Dạy con làm giàu Dạy làm giàu Dạy làm người Đề thi - Đáp án Đề thi Địa lý Đề thi Lớp 1 Đề thi Lớp 10 Đề thi Lớp 12 Đề thi Lớp 2 Đề thi Lớp 5 Đề thi Lớp 6 Đề thi Lớp 9 Đề thi tham khảo Đề thi THPT Quốc gia Đề thi Tin học Đề thi Toán học Đề thi trắc nghiệm Đề thi Tuyển sinh Dị ứng Điểm chuẩn ĐH Điện thoại Download tạp chí kinh tế phát triển English Hàng xách tay Học làm giàu Hoc sinh cấp 3 Hoc sinh lớp 1 Hoc sinh lớp 10 Hoc sinh lớp 12 Hoc sinh lớp 2 Hoc sinh lớp 5 Khoa hoc Khuyến mãi của Adayroi Khuyến mãi của Sendo Khuyến mãi hôm nay Kiếm tiền Kinh doanh Kinh doanh Online Kinh tế Luận án Tiến sĩ Luận án Tiến sĩ Kinh tế Luận văn - Báo cáo Luận văn Thạc sĩ Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Mã giảm giá Mã giảm giá Adayroi Mã giảm giá Lazada Mã giảm giá Sendo Mã giảm giá Shopee Mã giảm giá túi balo Mã giảm giá vali Ma-giam-gia Môn Tiếng Anh Môn Tiếng Trung Môn Tin học Môn Toán Năm học 2018 Năm học 2019 Năm học 2020 Nên làm gì Nghiên cứu Kinh doanh Nghiên cứu Pháp luật xã hội Ngoại tình Người yêu củ Phụ nữ Quấy rối Sách Sách English Sách hay nhất Sách Lớp 2 Sách Lớp 5 Sách Lớp 9 Sách tâm lý Sách Tiếng Anh Sách Tin học Sản phẩm khuyến mãi Sau đại học Sức khỏe Tài liệu Cơ học kỹ thuật Tài liệu Kinh tế Tài liệu Kỹ thuật Tài liệu Kỹ thuật Cầu đường Tài liệu Kỹ thuật Ceramic Tài liệu Kỹ thuật Chế tạo Tài liệu Kỹ thuật Cơ điện tử Tài liệu Kỹ thuật Cơ khí Tài liệu Kỹ thuật Công trình biển Tài liệu Kỹ thuật Dầu khí Tài liệu Kỹ thuật Dệt may Tài liệu Kỹ thuật Điện tử Tài liệu Kỹ thuật Điều khiển tự động Tài liệu Kỹ thuật Hạ tầng cơ sở Tài liệu Kỹ thuật Hàng không Tài liệu Kỹ thuật Hạt nhân Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống công nghiệp Tài liệu Kỹ thuật Hệ thống truyền thông Tài liệu Kỹ thuật Khai thác thủy sản Tài liệu Kỹ thuật Luyện kim Tài liệu Kỹ thuật máy tính Tài liệu Kỹ thuật Sinh học Tài liệu Kỹ thuật Viễn thông Tài liệu miễn phí Tài liệu tham khảo Tài liệu Tiếng Anh Tài liệu Toán Tài liệu Vật lý Tạp chí kinh tế Tiền bạc Tiếng Anh Tiếng Hoa Tiếng Trung Quốc Tìm việc làm Tin học Tin tức công nghệ Tư vấn review Tuyển sinh Cao đẳng Tuyển sinh Đại học Tuyển sinh Đại học 2019 Tuyển sinh Trung cấp
Showing posts sorted by relevance for query Tài Chính. Sort by date Show all posts

Nghiên cứu: Thủ tục hành chính, quyền lợi người tiêu dùng, thủ tục tư pháp, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nghiên cứu: Thủ tục hành chính, quyền lợi người tiêu dùng, thủ tục tư pháp, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tóm tắt Abstract:
Improving Vietnamese Law on the Mechanism of Protection for Consumers’ Interests.

Legislation on consumer protection is independent and important one in the civil as well as the commercial legal system in Vietnam. However, the infringement phenomenon of consumer rights is still increasing and becomes more and more serious. Depending on theseriousness and consequences of the violation, the offender may be punished by different penalty procedures, such as criminal prosecution, or civil litigation. Each method of consumer protection brings some effectiveness to the market and some consequences to the offender. The existing legislation on consumer protection in Vietnam has still many disadvantages and impacts on the opportunities of sociality, market, and consumer protection. Therefore, the study of legal regulations on consumer protection and solution proposals is very important to help the market become healthy and to protect the weak in the civil and commercial transactions.
Keywords: Administrative procedure, Consumer rights, Judicial procedure, Method of consumer protection

1. Cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 
Người tiêu dùng thường là bên yếu thế trong các giao dịch dân sự, bởi những hạn chế của họ về các thông tin liên quan đến hàng hóa, sản phẩm tiêu dùng. Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, người yếu thế là một trong những nội dung cơ bản trong việc bảo vệ các giá trị quyền con người. Do vậy, hệ thống pháp luật của phần lớn các quốc gia trên thế giới luôn hướng tới việc bảo đảm sự bình đẳng, minh bạch trong các quan hệ hợp đồng, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng − bên yếu thế.

Ở Việt Nam, trong những năm qua, Nhà nước đã thực sự quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bảo vệ người tiêu dùng đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập và có vị trí đáng kể trong hệ thống pháp luật dân sự − thương mại ở Việt Nam. Mặc dù thế, nhưng hiện tượng xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng đang ngày càng phổ biến, mức độ xâm phạm ngày càng trầm trọng. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng chỉ có thể được đảm bảo thông qua hoạt động hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đặc biệt là cơ chế đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng cùng hệ thống chế tài đủ mạnh.

Cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là cách thức, biện pháp, trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Quan hệ giữa người tiêu dùng và bên cung cấp hàng hóa dịch vụ là một giao dịch – một quan hệ pháp luật. Theo đó, pháp luật đặt ra những trách nhiệm đặc thù của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người tiêu dùng tại điều 10, các điều từ 12 đến 23 của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Hành vi vi phạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng không đơn thuần chỉ là hành vi vi phạm hợp đồng, mà ở đó người tiêu dùng là một bên chủ thể của quan hệ; mà còn là hành vi vi phạm các nghĩa vụ pháp lý đã được định chế. Do vậy, chủ thể có hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng sẽ tùy thuộc vào mức độ và hậu quả của hành vi mà có thể bị áp dụng cơ chế xử lý bằng thủ tục hành chính, hay xử lý bằng thủ tục tư pháp, bao gồm: xử lý hình sự, hoặc kiện dân sự. Mỗi cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ cho phép người vận hành cơ chế đó áp dụng các chế tài khác nhau đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

2. Các cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện hành.

2.1. Bảo vệ người tiêu dùng thông qua thủ tục hành chính.

Bảo vệ người tiêu dùng bằng thủ tục hành chính là việc các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được áp dụng thủ tục hành chính, ra các quyết định hành chính nhằm xử lý đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Thủ tục này cho phép chủ thể có thẩm quyền được áp đặt các chế tài hành chính đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chế tài hành chính bảo vệ người tiêu dùng được áp dụng khi bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đây là hậu quả do cơ quan chức năng áp dụng đối với các cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Theo đó, chủ thể có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi như bị xử phạt vi phạm hành chính hay các biện pháp cưỡng chế hành chính khác. Chế tài hành chính được áp dụng nhằm mục đích răn đe chủ thể có hành vi vi phạm, nhằm tác động đến ý thức tuân thủ pháp luật của các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.

Để đánh giá được thực trạng và hiệu quả của việc áp dụng các chế tài hành chính nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, cần phải xem xét mức độ xâm hại quyền lợi người tiêu dùng hiện nay và khả năng bảo vệ người tiêu dùng bằng các chế tài hành chính. Khi nói đến thực trạng áp dụng các chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng cần đề cập đến các nội dung cơ bản: (1) thực trạng hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền áp dụng các chế tài hành chính; (2) thực trạng thủ tục giải quyết vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; và (3) mức xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian gần đây, liên tiếp các vụ việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng được phản ánh như: chất lượng hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo như trong quảng cáo; người tiêu dùng bị quấy rối bởi các tin nhắn bán hàng, khuyến mại; gian lận về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, sản phẩm; vấn nạn thực phẩm bẩn tạo nên những cái chết từ từ tràn lan…Hàng loạt các vụ việc liên quan đến chất lượng của hàng hóa là thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra, ví dụ: các vụ ngộ độc do rượu chứa methanol (Nguyễn Định, 2017), nước giải khát chứa chì của công ty trách nhiệm hữu hạn URC Hà Nội (Trần Ngoan & Nam Phương, 2016), nước ngọt chứa dị vật của tập đoàn Tân Hiệp Phát (Đồng Dương, 2015), các vụ ngộ độc tại các bếp ăn tập thể mà nguyên nhân là sử dụng thực phẩm kém chất lượng để chế biến (VTV24, 2017), bơm tạp chất vào tôm sú (Việt Trường, 2017). Vấn nạn hàng giả, hàng nhái tràn lan, thậm chí, hàng giả, hàng nhái còn xuất hiện cả trong các trung tâm thương mại lớn, ví dụ: nho Ninh Thuận cắm cờ Trung Quốc, gà thải loại của Trung Quốc gắn mác Hàn Quốc tại chuỗi siêu thị BigC (Thanh Bình, 2017). Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ, hàng loạt các vụ việc liên quan đến chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của người tiêu dùng, chẳng hạn sự cố chậm chuyến, hoãn chuyến bay của hãng hàng không Vietjet Air, hãng này liên tục trễ chuyến kéo dài, thậm chí có chuyến trễ đến 12 tiếng…Qua đó cho thấy quyền lợi người tiêu dùng đang ngày càng bị xâm phạm một cách trầm trọng hơn.

Tuy nhiên, khi bị xâm phạm đến quyền lợi, không phải trong trường hợp nào người tiêu dùng cũng có yêu cầu xử lý đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, với lý do quy trình giải quyết phức tạp, thái độ của cán bộ chuyên trách khi tiếp nhận vụ việc không thiện chí, gây khó dễ với người yêu cầu…, và bên cạnh đó, cũng có nhiều vụ việc người tiêu dùng có làm đơn yêu cầu xử lý nhưng không có kết quả giải quyết. Thực trạng đó cho thấy phản ứng từ các cơ quan chức năng đối với việc xử lý các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng còn chậm chạp và kém hiệu quả. Việc công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng vì nhiều lý do, vẫn còn chưa được thực hiện. Chẳng hạn thông tin liên quan đến nguồn thủy sản từ khu vực các tỉnh miền Trung có ảnh hưởng trực tiếp từ sự cố môi trường của công ty Formosa, thông tin liên quan đến việc xử lý (kết quả xử lý) các chủ thể có hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng… Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nhiều bất cập. Cụ thể như:.

Thứ nhất, về căn cứ để xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, mặc dù vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không chỉ xâm phạm đến quyền tài sản hay nhân thân của người tiêu dùng mà còn xâm phạm đến trật tự công. Tuy nhiên, để xử lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm, thì người tiêu dùng bị xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng phải có yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản với cơ quan nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sau khi tiếp nhận yêu cầu của người có quyền, lợi ích bị xâm phạm, cơ quan quản lý nhà nước bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ thực hiện các thủ tục cần thiết để giải quyết yêu cầu. Việc xử lý vi phạm hành chính về bảo vệ người tiêu dùng hiếm khi xuất phát từ yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, về chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm, Luật Bảo vệ Quyền có nguồn gốc từ thủy sản như: phạt tiền từ 300.000 VNĐ đến 500.000 VNĐ đối với hành vi trực tiếp đưa tạp chất vào hải sản, phạt tiến từ 70.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ đối với hành vi tổ chức đưa tạp chất vào thủy sản hoặc sơ chế, chế biến thủy sản có tạp chất được đưa vào, phạt tiền 5.000.000 VNĐ đến 7.000.000 VNĐ đối với các hành vi khai thác, thu gom chế biến các loài thủy sản có xuất xứ từ cơ sở nuôi cấm thu hoạch, vùng nuôi cấm thu hoạch (Chính phủ, 2013)…Trong khi, hậu quả mà các hành vi này để lại cho xã hội nói chung và người tiêu dùng nói riêng là vô cùng trầm trọng. Do vậy, có thể thấy trong thời gian qua, việc áp dụng chế tài hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiệu quả không cao.

2.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng thủ tục tư pháp.

Quan hệ tiêu dùng là quan hệ dân sự. Quyền của người tiêu dùng với tư cách là một giá trị xã hội cũng có các mức độ khác nhau, tương ứng với đó là những mức độ bảo vệ khác nhau. Mức độ thấp nhất là để người tiêu dùng tự bảo vệ quyền lợi của mình bằng việc sử dụng pháp luật thuộc lĩnh vực luật tư: dân sự, thương mại. Mức độ bảo vệ thứ hai là xử phạt hành chính. Để không cản trở các quan hệ kinh tế, dân sự và tránh can thiệp quá sâu vào những tranh chấp liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng, Nhà nước chỉ coi những hành vi xâm hại quyền lợi người tiêu dùng là tội phạm và sử dụng mức độ bảo vệ cao nhất bằng luật hình sự đối với những hành vi xâm hại quyền lợi người tiêu dùng có tính chất nguy hiểm cao, thể hiện ở việc gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe và kinh tế của người tiêu dùng. Điều đó thể hiện ở những dấu hiệu định tính và định lượng như vi phạm với số lượng lớn, đã bị xử lý hành chính, đã gây hậu quả nghiêm trọng… Xử lý bằng hình sự đối với hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng được đặt ra khi xuất hiện hành vi phạm tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng. Tội phạm xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng là những hành vi của các cá nhân, pháp nhân (thương nhân) liên quan đến sản xuất, buôn bán, phân phối hàng hóa, dịch vụ với mục đích lợi nhuận, xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, lợi ích kinh tế của người tiêu dùng được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Chủ thể của tội phạm xâm hại quyền lợi người tiêu dùng là thương nhân. Thương nhân (là cá nhân hoặc pháp nhân) là chủ thể của tội phạm xâm hại quyền lợi người tiêu dùng là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà phân phối, nhà cung cấp, bán lẻ hàng hóa (Quốc hội, 2015c).

Bộ luật Hình sự 2015 quy định về một số tội do cá nhân, pháp nhân kinh doanh thực hiện trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế như: tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; tội đầu cơ; tội vi phạm quy định về cạnh tranh; tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; tội quảng cáo gian dối; tội lừa dối khách hàng; tội vi phạm các quy định về cung ứng điện; tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự; tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác; tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; tội thao túng thị trường chứng khoán; tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm; tội vi phạm quy định pháp luật về bán đầu giá tài sản; tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác; tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (Quốc hội, 2015c)… .

Đặc điểm chung của các tội phạm xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng là đều xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, trật tự công cộng, quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Đối tượng của các tội phạm này đều là hàng hóa, dịch vụ và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Phần lớn các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng bị coi là tội phạm khi nó gây hậu quả ở mức độ nghiêm trọng (số lượng lớn) hoặc có nhân thân xấu (đã bị xử lý hành chính).

Tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng mà hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân khi thực hiện các hành vi vi phạm đó được áp dụng mức hình phạt khác nhau.

Chẳng hạn, đối với tội sản xuất, buôn bán kinh doanh hàng giả theo quy định của điều 192, Bộ luật Số 257(II) tháng 11/2018 19 Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, thì hình phạt đối với pháp nhân có thể là phạt tiền (mức thấp nhất là là từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng, 3 tỷ đến 6 tỷ đồng, mức cao nhất từ 6 đến 9 tỷ đồng) đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Đối với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội này được dự liệu các mức hình phạt: phạt tiền từ 100 triệu đến 1 tỷ, hoặc phạt tù từ 1 đến 5 năm, phạt tù từ 5 đến 10 năm, phạt tù từ 7 đến 15 năm (Quốc hội, 2015c).

Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm được quy định tại điều 193, Bộ luật Hình sự 2015 thì hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội ở các mức: đối với tội sản xuất, kinh doanh hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh theo quy định của điều 194, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thì hình phạt đối với pháp nhân có thể là phạt tiền ở các mức 1 tỷ đồng đến 4 tỷ đồng, 4 tỷ đến 9 tỷ đồng, 9 tỷ đến 15 tỷ đồng, 15 tỷ đến 20 tỷ hoặc đình chỉ hoạt động từ 1 đến 3 năm, trường hợp gây hậu quả nặng nề thì hình phạt có thể áp dụng là đình chỉ vĩnh viễn. Cá nhân thực hiện hành vi phạm tội này được dự liệu các mức hình phạt từ 2 năm đến 5 năm, từ 5 năm đến 10 năm, từ 10 năm đến 15 năm, từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (Quốc hội, 2015c).

Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh tại điều 194, xác định hình phạt đối với pháp nhân ở các mức phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 4 tỷ đồng, từ 4 tỷ đến 9 tỷ, từ 9 tỷ đến 15 tỷ, từ 15 tỷ đến 20 tỷ hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1 đến 3 năm; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Đối với cá nhân, các mức hình phạt được dự liệu phạt tù từ 2 đến 7 năm, từ 5 đến 12 năm, từ 12 đến 20 năm, từ 20 năm tù chung thân hoặc tử hình (Quốc hội, 2015c).

Đối với tội sản xuất buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi quy định tại điều 195, hình phạt đối với pháp nhân phạm tội được quy định các mức phạt tiền từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng, từ 3 tỷ đến 6 tỷ đồng, từ 6 tỷ đến 9 tỷ đồng, từ 9 tỷ đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1 đến 3 năm. Đối với cá nhân các hình phạt được dự liệu ở các mức phạt tiền từ 100 triệu dến 1 tỷ hoặc phạt tù từ 1 đến 5 năm, phạt tù từ 5 đến 10 năm, từ 10 năm đến 15 năm (Quốc hội, 2015c).

Đối với tội đầu cơ, cá nhân thực hiện hiện hành vi phạm tội này được dự liệu các mức hình phạt: phạt tiền từ 30 triệu đến 300 triệu hoặc phạt tù thừ 6 tháng đến 3 năm, phạt tiền từ 300 triệu đến 1,5 tỷ hoặc phạt tù từ 3 năm đến 7 năm, phạt tiền từ 1,5 tỷ đến 5 tỷ hoặc phạt tù từ 7 đến 15 năm. Pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội được dự liệu các mức hình phạt từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng, từ 1 tỷ đến 4 tỷ đồng, từ 4 tỷ đến 9 tỷ đồng (Quốc hội, 2015c). Hầu hết các pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng kể trên đều được pháp luật hình sự dự liệu về việc có thể áp dụng hình phạt bổ sung: phạt tiền, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm. Đối với cá nhân, hình phạt bổ sung có thể được áp dụng: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 1 đến 5 năm, bị tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản. Pháp luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đã mở rộng phạm vi bảo vệ đối với quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, có một số hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng có thể để lại hậu quả vô cùng nặng nề đối với cá nhân người tiêu dùng nói riêng và xã hội nói chung; chẳng hạn như tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, chỉ bị quy định mức cao nhất của hình phạt tù áp dụng đối với cá nhân vi phạm là 20 năm tù, đối với pháp nhân mức cao nhất là phạt tiền từ 9 tỷ đển 15 tỷ hoặc tạm đình chỉ hoạt động trong thời hạn từ 1 đến 3 năm; tội sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, mức cao nhất của hình phạt là tù chung thân (Quốc hội, 2015c);..Mức hình phạt này chưa thật sự tương xứng với hậu quả mà các hành vi đó gây ra cho xã hội.

Bên cạnh đó, tội quảng cáo gian dối, tội lừa dối khách hàng được quy định tại các điều 197, 198 Bộ luật Hình sự không áp dụng đối với pháp nhân, mặc dù trong thực tế, pháp nhân hoàn toàn có thể là chủ thể thực hiện các hành vi vi phạm này. Thực tiễn xử lý hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thật sự coi người tiêu dùng là bên yếu thế, là đối tượng cần được bảo vệ trong quan hệ với người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Do vậy, việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự để xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng chưa đảm bảo được nguyên tắc: xử lý đúng người, đúng tội, điều đó tạo ra tâm lý bất an cho người tiêu dùng, sự hoang mang, bất bình trong dư luận xã hội. Trong tháng 8 năm 2017, Toà án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án liên quan đến hoạt động buôn bán thuốc H-Capita của công ty cổ phần VN Pharma ra xét xử. Quá trình xét xử đối với vụ án này cho thấy: những tài liệu trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên toà phản ánh hành vi của VN Pharma và những người có liên quan có đầy đủ yếu tố cấu thành tội kinh doanh hàng giả. Hành vi này để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho người bệnh cũng như xã hội. Tuy nhiên, các cá nhân, pháp nhân liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh hàng giả của VN Pharma được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý về tội buôn lậu mà không phải tội kinh doanh hàng giả. Điều này đã gây ra tâm lý hoang mang và sự bất bình trong dư luận xã hội.

Tương tự, các vụ án liên quan đến hành vi kinh doanh mỳ chính giả, bột giặt giả, phân bón giả, giống cây trồng giả…được công an các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Thanh Hoá, Thái Bình…triệt phá trong thời gian qua (từ 2015 đến 2016) cho thấy chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh hàng giả chủ yếu bị xử lý hành chính, rất ít trường hợp bị xử lý hình sự, mặc dù hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự. 2.3. Bảo vệ người tiêu dùng thông qua cơ chế kiện dân sự.

Cơ chế khởi kiện để yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện khi mà tranh chấp giữa người tiêu dùng và cá nhân, pháp nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ không thể thương lượng, hòa giải và cũng không có thỏa thuận áp dụng thủ tục tố tụng trọng tài, một trong các bên có tranh chấp khởi kiện vụ án ra tòa án có thẩm quyền. Đối với những vụ việc vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của nhiều người thì không được phép áp dụng thủ tục thương lượng và hòa giải. Khi vụ tranh chấp giữa các bên không thuộc trường hợp được thương lượng, hòa giải, hoặc không thể thương lượng, hòa giải, họ có thể thỏa thuận áp dụng thủ tục tố tụng trọng tài; hoặc người tiêu dùng có thể khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền. Hiệu quả bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua cơ chế kiện dân sự này phụ thuộc vào các yếu tố: (1) tính thuận lợi của thủ tục giải quyết tranh chấp; (2) giá trị thi hành của kết quả giải quyết tranh chấp.

Về thủ tục giải quyết vụ án, việc giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tòa án được bắt đầu khi mà người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện vụ án.

(1) Người khởi kiện vụ án ở đây là người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đối với tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải thỏa mãn các điều kiện theo quy định của điều 27, luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật (về lập hội), được người tiêu dùng ủy quyền đại diện khởi kiện vụ án (Quốc hội, 2010). Tuy nhiên, cho đến nay, các vụ việc khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng rất hạn chế và chủ yếu do cá nhân người tiêu dùng thực hiện. Bên cạnh đó, việc pháp luật bảo vệ người tiêu dùng chỉ quy định cá nhân là người khởi kiện vụ án cũng gây ra những khó khăn cho việc khởi kiện vụ án ở chỗ: có nhiều vụ vi phạm mà thiệt hại đối với từng cá thể người tiêu dùng là không lớn nhưng thiệt hại đối với toàn bộ người tiêu dùng đã sử dụng hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng lại quá lớn. Trường hợp này họ có thể liên kết với nhau để làm đơn khởi kiện tập thể hay phải cùng yêu cầu Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khởi kiện? Việc khởi kiện tập thể vẫn chưa được pháp luật quy định một cách cụ thể. Trong khi đó, Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở đâu, có chức năng như thế nào, có thể đại diện cho tập thể người tiêu dùng hay chỉ có thể đại diện cho từng cá nhân người tiêu dùng khởi kiện vụ án… Những nội dung đó hiện chưa được quy định một cách cụ thể trong Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng.

Đối với người tiêu dùng bị thiệt hại họ luôn có tâm lý e ngại đấu tranh, ngại tranh chấp, ngại phiền hà cùng với sự phức tạp trong thủ tục pháp lý và các chi phí phát sinh từ việc khởi kiện vụ án. Do vậy, thực tế, người tiêu dùng Việt Nam chưa khai thác hết các quyền mà pháp luật trao cho họ để bảo vệ chính mình. Đối với những vụ tranh chấp mà thiệt hại xảy ra không quá lớn, từng người tiêu dùng đơn lẻ sẽ thường chọn cách im lặng thay vì khởi kiện vụ án. Nếu pháp luật cho phép khởi kiện tập thể thì tập thể người tiêu dùng đã tiêu dùng cùng một hàng hóa, dịch vụ có thể liên kết để khởi kiện tập thể nhằm gây sức ép với cá nhân, tổ chức, buộc họ phải nhanh chóng chấm dứt hành vi vi phạm, khắc phục thiệt hại thực tế. Chẳng hạn như với tình trạng vi phạm quyền lợi người tiêu dùng của hãng hàng không Vietjet air (Mai Trinh, 2017) với việc khởi kiện tập thể của các hành khách đi trên các chuyến bay bị chậm chuyến sẽ làm tăng sức mạnh của việc khởi kiện, tiết giảm chi phí cho người khởi kiện đồng thời tạo nên sức ép để hãng hàng không này tôn trọng những quyền lợi chính đáng của khách hàng.

(2) Thủ tục giải quyết tranh chấp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng. Theo đó, không phải vụ án nào cũng được áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn. Theo quy định của Luật Bảo vệ Quyền lợi Người tiêu dùng, thì các vụ án được khởi kiện bởi chính cá nhân người tiêu dùng, người bị kiện là cá nhân, pháp nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ; có chứng cứ rõ ràng; giá trị giao dịch dưới 100 triệu sẽ có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng rút gọn (Quốc hội, 2010). Như vậy, khi khởi kiện vụ án, ngay cả đối với các vụ án có tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, người khởi kiện cũng có thể đối diện với thủ tục phức tạp, nếu giá trị của vụ tranh chấp trên 100 triệu đồng, dẫn đến hiệu quả thu lại sau quá trình giải quyết vụ án có thể không tương xứng với thời gian và tiền bạc mà đương sự đã bỏ ra để phục vụ việc khởi kiện và giải quyết vụ án.

Việc xác định điều kiện giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn tại điều 42 Luật Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng không chỉ được giới hạn bởi tính chất đơn giản, rõ ràng của vụ án, sự đầy đủ của chứng cứ mà còn giới hạn ở giá trị của tranh chấp. Quy định này không phù hợp với tính chất và điều kiện của việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng rút gọn được quy định tại điều 317 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

(3) Tạm ứng án phí: một trong những điều kiện quan trọng để hồ sơ khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thụ lý thì người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí. Quy định này cũng góp phần tạo nên tâm lý ngại khởi kiện của người tiêu dùng. Bởi họ chỉ khởi kiện vụ án khi mà quyền lợi chính đáng của mình bị xâm phạm, việc kiện tụng chưa biết kết quả thắng thua nhưng họ đã phải bỏ ra rất nhiều chi phí như tàu xe, đi lại, thời gian và cả tiền tạm ứng án phí.

Về hiệu quả giải quyết tranh chấp, chế tài dân sự được áp dụng trong các vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là bồi thường thiệt hại. Đây là loại chế tài được áp dụng nhằm khắc phục thiệt hại, bù đắp tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho người tiêu dùng, là một trong những chế tài dân sự có tính chất mềm dẻo, linh hoạt. Xuất phát từ hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng là gây ra những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe…cho người tiêu dùng nên chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng một cách rất phổ biến.

Để áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì người tiêu dùng phải chứng minh được thiệt hại. Thiệt hại ở đây là thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe…bị xâm phạm. Mức bồi thường sẽ căn cứ trên thiệt hại thực tế xảy ra và các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường này hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết nếu không thỏa thuận được.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc chứng minh thiệt hại về sức khỏe trong trường hợp người tiêu dùng yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị sử dụng sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng vô cùng khó khăn bởi sản phẩm độc hại không gây bệnh ngay lập tức mà phải có thời gian. Nguyên đơn rất khó chứng minh để tòa án thấy được là mình bị thiệt hại về sức khỏe do đã tiêu thụ những sản phẩm, hàng hóa trong vụ kiện; bởi để chứng minh, nguyên đơn cần phải có hóa đơn, chứng từ cho các chi phí khám chữa bệnh, kiểm tra sức khỏe, xác định tỷ lệ thương tật, tổn thương, mất khả năng lao động, cơ hội tìm kiếm việc làm, thu nhập thực tế bị mất,…Do vậy, người khởi kiện đối với những vụ án này hầu như sẽ không được bồi thường.

3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có mục đích lành mạnh hoá và ổn định thị trường. Công việc này là nhiệm vụ của toàn xã hội mà trước hết là bởi các chức năng (cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp). Để có thể áp dụng có hiệu quả các cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cần hoàn thiện quy định pháp luật về những nội dung sau:.

(1) Phải thiết lập được và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phát hiện và chủ động xử lý những trường hợp vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng, đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo người tiêu dùng không chỉ được xử lý bởi yêu cầu của bên yếu thế.

(2) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước như cơ quan y tế, quản lý thị trường ở các địa phương, hoàn thiện về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho công chức trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp bởi vì chính họ là người thực hiện việc kiểm tra, giám sát chất lượng, nguồn gốc của hàng hóa và trực tiếp áp dụng chế tài hành chính đối với những trường hợp vi phạm; hoặc quyết định áp dụng thủ tục tố tụng, xác định tội danh và mức hình phạt đối với hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

(3) Đảm bảo sự minh bạch hóa đối với quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.

(4) Củng cố hệ thống mạng lưới bảo vệ người tiêu dùng; đặc biệt, cần tăng cường năng lực hoạt động của hệ thống các hội bảo vệ người tiêu dùng ở địa phương.

(5) Nên tăng mức hình phạt áp dụng đối với các tội: vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, tội sản xuất buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm lên mức cao nhất là tử hình đối với một số trường hợp cụ thể.

(6) Xây dựng cơ chế khởi kiện tập thể đối với các vụ án mà người tiêu dùng bị xâm phạm ở phạm vi rộng nhằm tiết giảm chi phí cho các đương sự khi khởi kiện vụ án.

(7) Xác định lại điều kiện giải quyết vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo thủ tục rút gọn cho khoa học và phù hợp với yêu cầu của pháp luật tố tụng dân sự.

(8) Nâng cao năng lực của các cơ quan giám định để đảm bảo xác định được mức độ ảnh hưởng của hàng giả, hàng kém chất lượng…đến sức khỏe của người tiêu dùng, tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe trong trường hợp họ đã sử dụng các sản phẩm này.

 (9) Cần áp dụng chế độ án phí đặc biệt đối với các vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó người khởi kiện vụ án không phải thực hiện nghĩa vụ nộp án phí.

Tài liệu tham khảo: 
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
http://ktpt.neu.edu.vn/tap-chi/so-257-ii/muc-luc-803/hoan-thien-phap-luat-viet-nam-ve-co-che-bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung.378983.aspx

Nghiên cứu: Quản trị lợi nhuận và Thông tin liên quan đến giá trị cổ phiếu

Quản trị lợi nhuận và Thông tin liên quan đến giá trị cổ phiếu
Tóm tắt/ Abstract:
Earnings Management and Stock Price Informativeness
This paper examines the effect of earnings management on stock price informativeness. Using a data set of firms listed on HO CHI MINH Stock Exchange and HANOI Stock Exchange in the period of 2007-2017, we find that earnings management is positively associated with stock price informativeness. This result is consistent with the hypothesis that the developing countries with institutional environment, information environment have not yet been perfected and the protection of the investor’s rights is not efficient, result in the higher level of earnings management, the larger amount of value relevant information is capitalized into stock price by informed trading of internal shareholders. Therefore, earning management enhances stock price informativeness.
Keywords: Earnings Management, Stock price informativeness, Transparency, Valuerelevant information

1. Giới thiệu

Giá cổ phiếu chịu tác động của cả thông tin vĩ mô và thông tin đặc thù công ty. Thông tin vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ cổ phiếu trên thị trường, trong khi đó thông tin đặc thù công ty chỉ ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của công ty. Quá trình thu thập, phân tích thông tin đặc thù công ty có liên quan đến giá trị và giao dịch cổ phiếu dựa trên các thông tin đó được gọi là quá trình chuyển hóa thông tin vào giá cổ phiếu, kết quả làm cho giá cổ phiếu mang tính thông tin (Grossman, 1976; Shleifer & Vishny, 1997). Như vậy, tính thông tin của giá cổ phiếu được hiểu là lượng thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị được chứa đựng trong giá cổ phiếu. Tính thông tin của giá cổ phiếu cao hàm ý rằng giá cổ phiếu chứa đựng nhiều thông tin đặc thù công ty và ít thông tin vĩ mô của thị trường. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng vốn và các nguồn lực khác được phân bổ hiệu quả hơn trong nền kinh tế khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao (Wurgler, 2000; Durnev & cộng sự, 2004). Bên cạnh đó, tính thông tin của giá cổ phiếu là chỉ dấu giúp các nhà quản trị nhận biết phản ứng của thị trường về những quyết định của mình, và do vậy giúp họ đưa ra những quyết định quản trị tốt hơn nhằm hướng đến làm tăng giá trị công ty. Tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường nhận diện chất lượng các quyết định của những nhà quản trị công ty và lựa chọn công ty cho mục đích đầu tư, từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư (Durnev & cộng sự, 2004; Chen & cộng sự, 2007). Có thể thấy, việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu ngày càng trở nên cấp thiết vì có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan quản lý Nhà nước, nhà quản trị cũng như nhà đầu tư. Quản trị lợi nhuận là việc nhà quản lý sử dụng các đánh giá chủ quan của mình trong quá trình lập báo cáo tài chính và trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm làm cho các bên có liên quan đánh giá không chính xác về hiệu quả kinh tế hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng dựa trên số liệu kế toán báo cáo (Healy & Wahlen, 1999). Nghiên cứu thực nghiệm trước đây cho thấy rằng quản trị lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến môi trường thông tin doanh nghiệp, cụ thể ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng thông tin. Do vậy, quản trị lợi nhuận là một trong những nhân tố có thể ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu (Zarowin, 2002; Jin & Myers, 2006; Fernandes & Ferreira, 2009; Hutton & cộng sự, 2009; Brockman & cộng sự, 2010; Rajgopal & Venkatachalam, 2011; Kim & Shi, 2012). Tuy nhiên, ảnh hưởng (gồm cả mức độ và chiều hướng tác động) của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu phụ thuộc vào môi trường thể chế và thông tin của mỗi quốc gia (Ball & cộng sự, 2000; Hope, 2003; Leuz & cộng sự, 2003; Bushman & cộng sự, 2004; Haw & cộng sự, 2004; Durnev & Kim, 2005; Burgstahler & cộng sự, 2006; Bushman & Piotroski, 2006).

Bài báo này nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trước hết, về mặt lý luận, kết quả thực nghiệm làm rõ thêm mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu cho một quốc gia cụ thể như Việt Nam và có thể sử dụng cho việc nghiên cứu có liên quan. Thứ hai, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp những hàm ý chính sách đối với nhà đầu tư trong việc phân tích và xây dựng danh mục đầu tư, các nhà quản trị trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhằm hướng đến gia tăng giá trị công ty, và các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động của thị trường chứng khoán trong việc ổn định và gia tăng hiệu quả của thị trường.

2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý thuyết

2.1.1. Nhân tố ảnh hưởng đến tính thông tin của giá cổ phiếu

 Nghiên cứu về tính thông tin của giá cổ phiếu đã thu hút sự quan tâm đáng kể của những nhà nghiên cứu học thuật trên thế giới trên nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ vĩ mô, Li & cộng sự (2004), Jin & Myers (2006), Fernandes & Ferreira (2009) thấy rằng giá cổ phiếu ở các nước có môi trường thông tin không minh bạch, hoặc ở các nước có sự hội nhập thấp về mặt kinh tế, tài chính vào nền kinh tế thế giới thường ít chứa đựng thông tin liên quan đến giá trị. Nghiên cứu của Morck & cộng sự (2000), Dang & cộng sự (2015) cho thấy rằng giá cổ phiếu có xu hướng đồng biến động cao ở các nước đang phát triển, ở những nước có môi trường thể chế yếu, thiếu sự bảo vệ cho lợi ích của nhà đầu tư. Trong những quốc gia với môi trường như thế, thông tin do công ty công bố ra công chúng thường ít tin cậy, lượng thông tin được công bố bị hạn chế, không kịp thời, và không có nhiều giá trị. Nhà đầu tư khó tiếp cận những thông tin hữu ích cho việc đầu tư. Thêm vào đó, việc bảo vệ không đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư làm cho họ không có động lực để thu thập và phân tích thông tin. Kết quả là giá cổ phiếu trên thị trường không mang tính thông tin cao. Ở góc độ công ty, nghiên cứu của Piotroski & Roulstone (2004), Hutton & cộng sự (2009), Gul & cộng sự (2010), Kim & Shi (2012) cung cấp các minh chứng rằng những yếu tố liên quan đến vấn đề quản trị công ty, môi trường thông tin (theo nghĩa lượng thông tin tin cậy mà thị trường có thể tiếp cận được qua các kênh như công bố trực tiếp của chính công ty, từ các nhà phân tích cổ phiếu của công ty, từ các nhóm sở hữu trong công ty có lợi thế về thông tin) đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hay giảm lượng thông tin được phản ánh trong giá cổ phiếu. Cụ thể, trong những công ty với cơ chế quản trị tốt hoặc công ty với môi trường thông tin minh bạch, nhà đầu tư bên ngoài có thể dễ dàng tiếp cận những thông tin liên quan đến giá trị, và tiến hành giao dịch cổ phiếu của công ty dựa trên những thông tin đó. Điều này dẫn đến giá cổ phiếu của công ty mang tính thông tin cao.

 2.1.2. Ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu

Có thể thấy, vấn đề trọng tâm của thị trường chứng khoán là thông tin bất đối xứng. Điều này xuất phát chủ yếu từ việc các doanh nghiệp không minh bạch trong công bố thông tin, dẫn đến một nhóm đối tượng được tiếp cận thông tin nhanh và chính xác hơn và tất nhiên sẽ thu được nhiều lợi ích hơn so với những đối tượng thông thường khác trong giao dịch. Thông tin bất đối xứng tạo ra nhiều rủi ro và gây thiệt hại cho một số nhóm nhà đầu tư tham gia thị trường và có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thị trường. Thông thường, bất đối xứng thông tin xảy ra khi các cổ đông nội bộ sở hữu thông tin đặc thù công ty nhiều hơn so với các nhà đầu tư bên ngoài. Đây cũng chính là lý thuyết giải thích cho quản trị lợi nhuận. Cho đến nay, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các lập luận đối lập về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Quan điểm thứ nhất chứng minh rằng mức độ quản trị lợi nhuận càng tăng thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng tăng. Nghiên cứu của Zarowin (2002) và Rajgopal & Venkatachlam (2011) cho thấy trong môi trường thông tin kém minh bạch, thông tin đặc thù công ty có khả năng bị rò rỉ bởi những đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty. Do vậy, khi nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận, mặc dù các nhà đầu tư bên ngoài khó có thể tiếp cận các thông tin đặc thù công ty hữu ích cho việc đầu tư nhưng nhóm lợi ích này lại tận dụng được lợi thế thông tin nội bộ của mình để thực hiện giao dịch cổ phiếu của công ty và góp phần chuyển hóa kịp thời và chính xác thông tin đặc thù công ty liên quan đến giá trị vào giá cổ phiếu thông qua các giao dịch này. Hệ quả, làm gia tăng tính thông tin của giá cổ phiếu (Carlton & Fischel, 1983; Manne, 1996). 

Trong khi đó, quan điểm thứ hai cung cấp minh chứng cho thấy mức độ quản trị lợi nhuận càng tăng thì tính thông tin của giá cổ phiếu càng giảm. Đối với các nước phát triển với môi trường thể chế tốt và môi trường minh bạch, khi nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận, mặc dù họ sở hữu lợi thế thông tin nội bộ công ty nhưng sẽ không có cơ hội tận dụng lợi thế này để tiến hành giao dịch cổ phiếu do luật pháp không cho phép. Bên cạnh đó, giao dịch cổ phiếu của nhà đầu tư chủ yếu dựa trên thông tin chung của thị trường do chỉ có thể tiếp cận phần lớn loại thông tin này. Kết quả, biến động giá cổ phiếu chủ yếu là do tác động của thông tin thị trường, dẫn đến tính thông tin của giá cổ phiếu thấp (Jin & Myers, 2006). Dựa trên nghiên cứu của Jin & Myers (2006), khi phân tích các nhân tố thuộc về công ty, Hutton & cộng sự (2009) cho thấy quản trị lợi nhuận làm cho thông tin được công bố đến thị trường bị hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng. Điều này sẽ làm cho giá cổ phiếu chứa đựng ít thông tin đặc thù công ty và làm giảm tính thông tin của giá cổ phiếu (Fan & Wong, 2002; Jin & Myers, 2006; Gul & cộng sự, 2010).Các nghiên cứu của Jing (2007) và Johston (2009) cũng ủng hộ cho quan điểm này. Dựa vào hai quan điểm trên, tác động thật sự của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào môi trường thể chế của quốc gia, cụ thể, nếu môi trường thể chế yếu thì quản trị lợi nhuận sẽ có tác động cùng chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu, ngược lại, nếu môi trường thể chế mạnh thì quản trị lợi nhuận sẽ tác động ngược chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Đây là một vấn đề cần nghiên cứu thực nghiệm. Cho đến nay, có thể thấy các nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu phần lớn tập trung ở các nước phát triển, hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này thực hiện tại Việt Nam được ghi nhận (theo sự hiểu biết tốt nhất của tác giả). Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam vì một số lý do sau: (1) tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu trong các nghiên cứu trước đây; (2) sự khác biệt về môi trường thể chế, môi trường thông tin và sự bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư giữa các quốc gia có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ này; (3) việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan Nhà nước, nhà quản trị và nhà đầu tư.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Nguồn dữ liệu Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm báo cáo tài chính và dữ liệu giá cổ phiếu của các công ty niêm yết được cung cấp bởi StoxPlus, một công ty chuyên thu thập và phân tích dữ liệu tài chính của các công ty ở Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm toàn bộ công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian 2007-2017. Dữ liệu không bao gồm các ngân hàng do đặc thù kinh doanh, đặc điểm tài chính kế toán và yêu cầu quản lý của lĩnh vực này có sự khác biệt đáng kể so với các ngành khác.

  2.2.2. Đo lường các biến + Tính thông tin của giá cổ phiếu (Infor) Trong nghiên cứu này, tác giả dựa trên cách tiếp cận của Roll (1988), Morck & cộng sự (2000) và Jin & Myers (2006) để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu của mỗi công ty cho mỗi năm dựa trên giá trị R2 từ hồi quy mô hình thị trường sau: ri,t = αi + βi rM,t + εi,t (1) Trong đó: ri,t : Tỷ suất lợi tức của cổ phiếu i tại tuần t của mỗi năm; rM,t : Tỷ suất lợi tức của danh mục thị trường tại tuần t của mỗi năm. Một giá trị R2 từ mô hình (1) thấp nghĩa là biến động tỷ suất lợi tức của cổ phiếu công ty được giải thích phần lớn bởi thông tin đặc thù của công ty và ít chịu ảnh hưởng bởi thông tin chung của thị trường.

Nói cách khác, R2 thấp hàm ý giá cổ phiếu của công ty mang tính thông tin cao (Morck & cộng sự, 2000; Jin & Myers, 2006). Bởi vì giá trị R2 bị giới hạn giữa 0 và 1, R2 được biến đổi logarit để đo lường tính thông tin của giá cổ phiếu dựa trên nghiên cứu Morck & cộng sự (2000) như sau: Infori = log((1- Ri 2 ) Ri 2 ) (2)

Một giá trị cao của Infor thể hiện giá cổ phiếu mang tính thông tin cao và ngược lại. + Quản trị lợi nhuận (DA) Quản trị lợi nhuận trong phạm vi bài báo được giới hạn trong việc nhà quản trị vận dụng các chính sách kế toán dựa trên cơ sở kế toán dồn tích khi lập và trình bày báo cáo tài chính, không đề cập đến việc quản trị lợi nhuận bằng cách điều chỉnh giao dịch thực. Cụ thể, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền. Nếu nhà quản lý có động cơ quản trị lợi nhuận, việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản doanh thu, chi phí có thể dẫn đến lợi nhuận công bố thay đổi. Quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu trước đây thường được nhận diện thông qua các mô hình định lượng biến dồn tích (accruals). Accruals là phần chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Accruals bao gồm hai phần: biến dồn tích không tuỳ ý (NDA - nondiscretionary accruals) - phần này gắn với mức độ hoạt động thông thường của doanh nghiệp; phần còn lại được gọi là biến dồn tích tuỳ ý (DA- discretionary accruals), có được do việc quản trị lợi nhuận của nhà quản lý. Để nhận diện quản trị lợi nhuận, các mô hình đi vào ước lượng giá trị biến dồn tích không tuỳ ý, trên cơ sở đó để xác định được phần giá trị biến dồn tích tuỳ ý. Nghiên cứu này sử dụng mô hình Jones điều chỉnh của Dechow & cộng sự (1995) - là mô hình ước lượng quản trị lợi nhuận được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam hiện nay. Mô hình có dạng như sau:

Dựa trên các nghiên cứu trước đây như Piotroski & Roulstone (2004), Chan & Hameed (2006), Fernandes & Ferreira (2008), bài báo kiểm soát trong mô hình hồi quy các biến đặc thù công ty có thể có ảnh hưởng chi phối đến quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu để loại trừ ảnh hưởng ròng của biến quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Các biến kiểm soát được mô tả trong Bảng 1. Để hạn chế ảnh hưởng của các quan sát ngoại vi, bài báo loại bỏ các quan sát của các biến ở phân vị 1% và phân vị 99% trong phân phối mẫu của mỗi biến.

2.2.3. Mô hình nghiên cứu Bài báo phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng như sau: Infori,t = γ + δDAi,t-1 + ηControlsi,t-1 +qn + dt + ζi,t (4) Trong đó: Infori,t: Tính thông tin giá cổ phiếu của công ty i được đo lường tại năm t DAi,t-1: Quản trị lợi nhuận được đo lường bằng giá trị tuyệt đối của biến dồn tích tùy ý qua mô hình Jones điều chỉnh (Dechow & cộng sự, 1995) tại năm t-1 Controlsi,t-1: Các biến kiểm soát đặc thù công ty tại năm t-1 qn : ảnh hưởng cố định ngành dt : ảnh hưởng cố định năm ζi,t: sai số ước tính của mô hình Định nghĩa các biến được trình bày ở Mục 2.2.2. Các biến độc lập được đưa vào mô hình hồi quy với giá trị trễ để hạn chế ảnh hưởng theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến biến quản trị lợi nhuận. Mô hình hồi quy cũng bao gồm các ảnh hưởng cố định ngành (qn ) và ảnh hưởng cố định năm (dt ) nhằm kiểm soát tác động chi phối của ngành và thời gian lên ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Bài báo sử dụng sai số chuẩn robust để giải quyết hiện tượng phương sai không đồng nhất và ước lượng sai số chuẩn theo cụm mỗi công ty để giải quyết vấn đề tự tương quan khi tính giá trị thống kê t như phương pháp của Petersen (2009).


3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan

Ở trên  trình bày thống kê mô tả của biến tính thông tin của giá cổ phiếu, biến quản trị lợi nhuận và các biến kiểm soát. Tính thông tin của giá cổ phiếu trung bình là 2,688 trong khoảng thời gian mẫu được đo lường bởi Infor. Kết quả này cho thấy tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đây trên thế giới đối với các nước đang phát triển (He & cộng sự, 2013). Trung bình, mức độ điều chỉnh lợi nhuận khoảng 24,8% trên tổng giá trị tài sản (ước lượng hệ số của giá trị tuyệt đối biến dồn tích tùy ý DA là 0,248) cho thấy các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thực hiện quản trị lợi nhuận trong giai đoạn nghiên cứu 2007-2017. Điều này có khả năng làm cho các đối tượng sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính đánh giá không đúng tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể dẫn đến rủi ro thông tin cho các đối tượng tham gia thị trường. Bảng 3 trình bày ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình (4).

Có thể thấy từ Bảng 3, biến đo lường quản trị lợi nhuận – biến dồn tích tùy ý (DA) có tương quan dương với biến tính thông tin của giá cổ phiếu Infor. Cụ thể, hệ số tương quan cặp giữa biến tính thông tin của giá cổ phiếu và biến dồn tích tùy ý là 0,013. Kết quả này cung cấp một đánh giá ban đầu về quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Nhìn chung, tương quan giữa các biến độc lập là thấp, do đó hạn chế khả năng xảy ra đa cộng tuyến trong mô hình hồi

 3.2. Kết quả thực nghiệm

Trình bày kết quả hồi quy của mô hình (4). Trong cột (1), bài báo thực hiện hồi quy OLS thông thường. Mô hình hồi quy bao gồm biến quản trị lợi nhuận và các biến kiểm soát, ảnh hưởng cố định ngành và năm. Kết quả cho thấy biến quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng thuận chiều đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Cụ thể, ước lượng hệ số của biến quản trị lợi nhuận là 0,167 (t-statistic= 2,42) với mức ý nghĩa 5%, hàm ý rằng mức độ quản trị lợi nhuận càng lớn thì giá cổ phiếu có tính thông tin càng cao. Kết quả này được giải thích dựa trên lý thuyết thông tin bất đối xứng và phù hợp với trường hợp của các nước đang phát triển với môi trường thể chế chưa hoàn thiện, môi trường thông tin ít minh bạch cùng với việc bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư chưa được quan tâm đúng mức và luật giao dịch nội gián chưa thực sự hiệu quả như Việt Nam. Trong môi trường như thế, khi những người điều hành công ty thực hiện quản trị lợi nhuận, thông tin đặc thù công ty hữu ích cho mục đích đầu tư có khả năng không được công bố thông qua kênh chính thống là báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cổ đông nội bộ là nhóm lợi ích biết rõ và dễ dàng tiếp cận những thông tin này. Giao dịch cổ phiếu của những cổ đông nội bộ làm cho giá cổ phiếu có xu hướng mang tính thông tin cao.

Kết quả này được lý giải là bởi vì những cổ đông nội bộ thường có lợi thế thông tin về hoạt động của công ty (Brockman & Yan, 2009).Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới như Zarowin (2002) và Rajgopal & Venkatachlam (2011). Đối với các biến kiểm soát, ước lượng hệ số cũng khá nhất quán với kết quả được ghi nhận trong các nghiên cứu trên thế giới. Cụ thể, các công ty với vốn hóa thị trường lớn (MV) thì tính thông tin của giá cổ phiếu thấp. Đồng thời, các cổ phiếu có rủi ro biến động giá cao (StdRet) thì tính thông tin của giá cổ phiếu thấp.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

4.1. Kết luận Bài báo này cung cấp minh chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2017, kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với quan điểm đối với các nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam với đặc điểm môi trường thông tin chưa minh bạch cùng với sự bảo vệ chưa đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư, luật giao dịch nội gián chưa chặt chẽ, khi mức độ quản trị lợi nhuận càng cao, thông tin đặc thù công ty sẽ được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thông qua giao dịch của các đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty càng nhiều, hệ quả, giá cổ phiếu mang tính thông tin càng cao.

4.2. Hàm ý chính sách và quản trị giá mang tính thông tin cao.

 Ngoài ra, giá trị R2 của mô hình hồi quy tương đối cao (35,5%), cho thấy các biến được lựa chọn cùng với các ảnh hưởng cố định trong mô hình giải thích một phần đáng kể biến động của biến phụ thuộc. Trong phân tích mô hình hồi quy ở cột (1) của Bảng 4, mặc dù bài báo đã sử dụng giá trị trễ của các biến độc lập để hạn chế khả năng tác động theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận, vẫn có thể tồn tại tác động ngược chiều nếu như biến phụ thuộc có sự tự tương quan cao theo thời gian. Để giải quyết vấn đề này, bài báo kiểm soát thêm biến trễ tính thông tin của giá cổ phiếu trong mô hình hồi quy (l_Infor). Kết quả này được trình bày ở cột (2) của Bảng 4. Kết quả cho thấy ước lượng hệ số trên biến dồn tích tùy ý vẫn không thay đổi về mặt định tính và giá trị hệ số vẫn có ý nghĩa thống kê. Dữ liệu nghiên cứu của bài báo bao gồm toàn bộ các công ty niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Sự khác nhau về quy mô, điều kiện niêm yết, cấu trúc vi mô thị trường của mỗi Sở Giao dịch cũng có thể ảnh hưởng chi phối đến quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Để giải quyết vấn đề này, các tác giả kiểm soát thêm trong mô hình hồi quy ảnh hưởng cố định niêm yết (ảnh hưởng Sở Giao dịch). Kết quả thể hiện ở cột (3) của Bảng 4 vẫn nhất quán với các phát hiện trong phần phân tích chính.

4. Kết luận và hàm ý chính sách

4.1. Kết luận

Bài báo này cung cấp minh chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đối với các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2017, kết quả ước lượng cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với quan điểm đối với các nước đang phát triển, cụ thể là Việt Nam với đặc điểm môi trường thông tin chưa minh bạch cùng với sự bảo vệ chưa đầy đủ quyền lợi của nhà đầu tư, luật giao dịch nội gián chưa chặt chẽ, khi mức độ quản trị lợi nhuận càng cao, thông tin đặc thù công ty sẽ được chuyển hóa vào giá cổ phiếu thông qua giao dịch của các đối tượng có lợi thế thông tin trong nội bộ công ty càng nhiều, hệ quả, giá cổ phiếu mang tính thông tin càng cao.

  4.2. Hàm ý chính sách và quản trị

 Tính thông tin của giá cổ phiếu có ảnh hưởng đến hiệu quả chức năng của thị trường chứng khoán. Kết quả nghiên cứu trên cho thấy khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước cần tập trung trên hai phương diện:

(1) thứ nhất, gia tăng tính minh bạch của môi trường thông tin;
(2) thứ hai, tăng cường sự bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư và thực thi hiệu quả luật giao dịch nội gián.

Cụ thể, nhà hoạch định chính sách cần có những giải pháp hoàn thiện chuẩn mực kế toán để tăng cường độ tin cậy của thông tin công bố. Đồng thời, có chế tài xử lý hữu hiệu hơn đối với việc quản trị lợi nhuận của nhà quản trị. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước có thể xem xét việc thiết lập khung pháp lý liên quan đến vấn đề công bố thông tin liên tục nhằm tăng cường chất lượng thông tin công bố. Ở cấp độ vi mô, tính thông tin của giá cổ phiếu cao có thể giúp nhà quản trị ra quyết định hiệu quả hơn trong đầu tư vốn. Do vậy, việc cải thiện tính thông tin của giá cổ phiếu là một trong những vấn đề quan tâm của các nhà quản trị. Đối với trường hợp các nước đang phát triển, việc thông tin bị rò rỉ và giao dịch nội gián của các cổ đông nội bộ thường là phổ biến (Morck & cộng sự, 2000). Vì vậy, tăng cường sự minh bạch trong công bố thông tin của các công ty niêm yết và hạn chế giao dịch nội gián là một yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đối với nhà đầu tư, tính thông tin của giá cổ phiếu cho phép nhà đầu tư trên thị trường lựa chọn công ty đầu tư, từ đó xây dựng và quản lý có hiệu quả danh mục đầu tư. Do vậy, quyết định đầu tư cổ phiếu chỉ trở nên hiệu quả hơn khi giá cổ phiếu mang tính thông tin cao.

Kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra nhà đầu tư phải xem xét tầm quan trọng của việc nhận diện quản trị lợi nhuận của công ty, góp phần làm tăng tính chính xác trong quyết định đầu tư.

5. Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 

 Mặc dù, các tác giả đã hạn chế khả năng tác động theo chiều ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận bằng cách sử dụng giá trị trễ của biến độc lập và kiểm soát thêm biến trễ tính thông tin của giá cổ phiếu trong mô hình hồi quy, tác động ngược lại từ tính thông tin của giá cổ phiếu đến quản trị lợi nhuận vẫn có thể tồn tại. Bên cạnh đó, bài báo chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu chứ chưa phân tích cơ chế thông qua đó quản trị lợi nhuận có thể tác động đến tính thông tin của giá cổ phiếu. Trong tương lai, về mặt phương pháp, các nghiên cứu có thể sử dụng biến công cụ phù hợp để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh của mô hình hồi quy dữ liệu bảng. Ngoài ra, có thể bổ sung nội dung về phân tích cơ chế quản trị lợi nhuận tác động đến tính thông tin của giá cổ phiếu hoặc nghiên cứu sự kiện về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu trước và sau khi áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế.

Tài liệu tham khảo:
QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ TÍNH THÔNG TIN CỦA GIÁ CỔ PHIẾU Nguyễn Mạnh Toàn
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018 P.20

Nghiên cứu: Pháp luật về tài sản thế chấp động sản hình thành trong tương lai.
Nghiên cứu: Pháp luật về tài sản thế chấp động sản hình thành trong tương lai.
Tóm tắt /Abstract: Legislation on Mortgage Right in Future Movable Assets in Vietnam The study builds the concept of future movable asset and mortgage right in the future movable assets. Based on a four-part structure including creation of a mortgage right, effectiveness of a mortgage right against third parties, priority of a mortgage right and remedies; the study analyzes the current legislation on mortgage right in future movable assets and practice. Via that, the study proposes suitable solutions. Keywords: Movable asset, future movable asset, collateral, mortgage right in future movable assets.

1. Giới thiệu 
Thế chấp động sản hình thành trong tương lai được khuyến khích áp dụng ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới, đặc biệt ở các nước common law. Theo nhận định của Cyprian & Marek (2015), nó đang có xu hướng phát triển ở các nước châu Phi, ví dụ như: Ghana, Kenya, Liberia, Nam Sudan và Zambia. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật ở Việt Nam hiện nay chủ yếu đề cập đến thế chấp bất động sản hình thành trong tương lai mà cụ thể là nhà ở. Phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tài sản chủ yếu của họ thường là hàng hóa luân chuyển, các khoản phải thu, v.v.

. Những động sản này luôn luôn biến động và có đặc tính quay vòng. Vì lẽ đó, động sản hiện có không đủ để trở thành đòn bẩy giúp các doanh nghiệp tiếp cận vốn. Khi hệ thống pháp luật về thế chấp động sản hình thành trong tương lai hoàn thiện, các chủ thể sẽ có thể khai thác tối đa giá trị tài sản của mình để tiếp cận vốn. Doanh nghiệp có thể mua sắm trang thiết bị, nguyên liệu, hàng hóa kịp thời phục vụ sản xuất kinh doanh hay người tiêu dùng có thể mua được hàng hóa giá trị lớn để sử dụng ngay. Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nền kinh tế. Do đó, để thúc đẩy hoạt động cấp tín dụng có bảo đảm, cần có một khung pháp lý để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể sử dụng động sản, trong đó có động sản hình thành trong tương lai làm tài sản bảo đảm.

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp động sản hình thành trong tương lai (chủ yếu là quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành). Trên cơ sở phân tích này, bài viết đưa ra các giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thế chấp động sản hình thành trong tương lai.

2. Thế chấp động sản hình thành trong tương lai.

Động sản được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, bao gồm giấy nhận nợ có bảo đảm (chattel paper), giấy tờ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa (documents of title), hàng hóa (goods), tài sản vô hình (intangibles), chứng khoán (investment securities), tiền (money) và các công cụ chuyển nhượng (negotiable instruments) (Nghị viện New Zealand, 1999, Mục 16 Phần 2). Hay, động sản gồm động sản hữu hình và động sản vô hình. Trong đó, động sản hữu hình bao gồm tất cả hàng hóa (goods), xe cơ giới (motor vehicle), cây trồng (crops), máy móc (machineries), gia súc (livestock). Động sản vô hình gồm các khoản phải thu (receivables), quyền tài sản được thực thi thông qua việc khởi kiện (choses in action), tài khoản tiền gửi tại ngân hàng (deposit accounts), chứng khoán điện tử (electronic securities) và quyền sở hữu trí tuệ (intellectual property rights) (Chính phủ Kenya, 2017, Mục 2 Phần 1). “Động sản là những tài sản không phải là bất động sản” (Quốc hội, 2015, Khoản 2 Điều 107). Và “bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2015, Khoản 1 Điều 107). Như vậy, động sản là vật có giá trị kinh tế và có khả năng tự di chuyển hoặc có thể dịch chuyển do tác động từ bên ngoài mà vẫn giữ nguyên được hình dạng, kích thước, tính chất, hoặc là “quyền” được dự định để mang lại một lợi ích vật chất cho chủ sở hữu, hoặc là “quyền” đã có để đổi lấy lợi ích vật chất thực tế hoặc dự kiến.

Theo Richard & Barry (2009), tài sản hình thành trong tương lai là tài sản mà bên thế chấp không sở hữu tại thời điểm hiện tại hoặc có quyền đối với tài sản nhưng sẽ có được vào thời điểm nào đó. Ví dụ, trong một giao dịch bảo đảm, các bên có thể thỏa thuận dùng tất cả hàng tồn kho, quyền đòi nợ hoặc thiết bị hiện có và sẽ có sau này của bên thế chấp là tài sản bảo đảm. New Zealand và Úc có quy định giống nhau về tài sản hình thành trong tương lai, đó là: Tài sản hình thành trong tương lai là động sản mà bên thế chấp có được sau thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm (Nghị viện New Zealand, 1999, Mục 16 Phần 2) (Nghị viện Úc, 2009, Mục 2 Phần 1.3). Ngoài ra, tài sản hình thành trong tương lai là tài sản không tồn tại hoặc bên thế chấp không có quyền đối với tài sản tại thời điểm giao dịch bảo đảm được giao kết (Chính phủ Kenya, 2017, Mục 2 Phần 1). Hoặc “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:.

a) Tài sản chưa hình thành;
 b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch” (Quốc hội, 2015, Điều 108). Vì vậy, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai là thời điểm tài sản được hình thành hoặc thời điểm chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản.

Động sản hình thành trong tương lai là một bộ phận nằm trong tổng thể tài sản hình thành trong tương lai. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa như sau: động sản hình thành trong tương lai là động sản chưa được hình thành tại thời điểm xác lập giao dịch đối với động sản đó hoặc đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với động sản sau thời điểm xác lập giao dịch đối với động sản. Động sản hình thành trong tương lai có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, có khả năng tự di chuyển hoặc có thể dịch chuyển do tác động từ bên ngoài mà vẫn giữ nguyên được hình dạng, kích thước, tính chất và phải có giá trị kinh tế, hoặc là “quyền” được dự định để mang lại một lợi ích vật chất cho chủ sở hữu của chúng, hoặc là “quyền” đã có được để đổi lấy lợi ích vật chất thực tế hoặc dự kiến. Thứ hai, có khả năng phát triển nhanh, mạnh và đa dạng, chiếm vị trí quan trọng trong tổng số tài sản của các chủ thể. Thứ ba, không ngừng mở rộng, gia tăng cả về số lượng và chủng loại. Thứ tư, thường có tính thanh khoản cao. Thứ năm, thời điểm động sản được hình thành hoặc thời điểm chủ thể xác lập quyền sở hữu đối với động sản luôn sau thời điểm xác lập giao dịch về động sản. Thứ sáu, khó mô tả chi tiết hoặc định hình một cách cụ thể, có sự biến đổi nhanh chóng từ loại này sang loại khác và mang tính quay vòng, luân chuyển theo chu kỳ kinh doanh. Có thể thấy, động sản hình thành trong tương lai biểu hiện ở những hình thái như: : hàng tiêu dùng, hàng hóa luân chuyển trong kinh doanh, quyền đòi nợ (các khoản phải thu), máy móc thiết bị, chứng khoán, quyền sở hữu trí tuệ, v.v… Và dựa trên nguồn gốc hình thành, động sản hình thành trong tương lai chia thành hai nhóm: tài sản do bên nhận thế chấp tài trợ mua (tài sản hình thành từ vốn vay) và tài sản không phải do bên nhận thế chấp tài trợ mua. “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp)” (Quốc hội, 2015, Khoản 1 Điều 317). Theo tác giả, thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng đối với cả bất động sản và động sản, trong đó, không có sự chuyển giao quyền sở hữu hay quyền chiếm hữu tài sản từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp, và bên nhận thế chấp có một vật quyền bảo đảm được xác lập trên tài sản thế chấp.

Như vậy, thế chấp động sản hình thành trong tương lai là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng đối với động sản chưa hình thành tại thời điểm xác lập giao dịch hoặc đã hình thành nhưng bên thế chấp chưa xác lập được quyền sở hữu tài sản thế chấp, trong đó bên nhận thế chấp có một vật quyền bảo đảm được xác lập trên động sản hình thành trong tương lai đó và không có sự chuyển giao quyền sở hữu hay quyền chiếm hữu động sản từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp (sau khi động sản hình thành).

3. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thế chấp động sản hình thành trong tương lai.

3.1. Xác lập quyền thế chấp trên động sản hình thành trong tương lai.

3.1.1. Tài sản phái sinh từ động sản thế chấp ban đầu.

Quốc hội (2015) mới chỉ quy định đối với hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh tại khoản 4 điều 321. Theo Xuan-Thao Nguyen & Bich Thao Nguyen (2014), vì pháp luật không đặt ra những quy định rõ ràng về tài sản phái sinh (proceeds) và tài sản phái sinh được điều chỉnh như thế nào khi đặt trong mối liên hệ với việc xác lập quyền thế chấp, hiệu lực đối kháng với người thứ ba (perfection) và quyền ưu tiên (priority); do đó các ngân hàng luôn cảm thấy không an toàn khi tài sản thế chấp là hàng tồn kho/ hàng hóa luân chuyển và nỗ lực bảo vệ kho hàng thay vì kiểm soát số tiền thu được từ hàng tồn kho (các khoản phải thu). Ngân hàng thường hạn chế để bên thế chấp bán tài sản thế chấp là hàng tồn kho. Điều này không chỉ cản trở sự lưu thông thương mại mà còn ngăn cản bên thế chấp tạo ra các khoản tiền mặt và từ đó có thể trả hết các khoản nợ. Tuy nhiên, những nỗ lực của ngân hàng để bảo vệ tài sản thế chấp hiếm khi thành công, bởi vì con nợ chắc chắn cần phải bán hàng tồn kho của mình và nhập hàng mới. Sự thiếu vắng các quy định về «tài sản phái sinh» đã cản trở việc tối đa hóa giá trị của tài sản thế chấp và gây ra những sai phạm trong thực tiễn. Theo tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2018); khi giải quyết vụ án sơ thẩm, tòa án nhân dân quận H đã không thu thập tài liệu liên quan và đưa danh sách các khách hàng phát sinh công nợ phải thu trị giá 33 tỷ đồng vào quá trình tố tụng. Do đó, tài sản thế chấp đã bị nhận định sai về mặt giá trị.

3.1.2. Quyền sở hữu của bên thế chấp đối với tài sản thế chấp.

Quốc hội (2015, Khoản 1 Điều 317) quy định tài sản thế chấp thuộc sở hữu của bên thế chấp. Theo đó, tài sản thế chấp có thể là tài sản hình thành trong tương lai. Quy định này đi ngược lại xu hướng chung của quốc tế và mâu thuẫn với việc công nhận tài sản hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm vì tài sản hình thành trong tương lai có thể là tài sản chưa hình thành hoặc tài sản đã hình thành nhưng chỉ thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm.

3.1.3. Thời điểm phát sinh hiệu lực của quyền thế chấp đối với động sản hình thành trong tương lai Quốc hội (2015, Khoản 1 Điều 39) quy định: “Hợp đồng thế chấp tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Do chưa có “quy định khác” về thế chấp động sản hình thành trong tương lai, nên hiệu lực của thế chấp động sản hình thành trong tương lai sẽ chiếu theo quy định “thời điểm giao kết”. Đặc tính của động sản hình thành trong tương lai là hình thành sau thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp hoặc bên thế chấp xác lập quyền sở hữu sau thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp, nên nếu áp dụng thời điểm có hiệu lực của quyền thế chấp đối với động sản hình thành trong tương lai giống như đối với tài sản hiện tại là không phù hợp. Do đó, quyền thế chấp không thể có hiệu lực tại thời điểm hợp đồng được xác lập.

Bên cạnh đó, “Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định” (Quốc hội, 2015, Khoản 1 Điều 298). Nhà làm luật đã nhầm lẫn giữa hiệu lực của giao dịch bảo đảm đối với các bên và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba khi quy định vấn đề này. Điều này dẫn đến nhiều hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật. Tòa án Nhân dân thành phố Quảng Ngãi tỉnh Quảng Ngãi (2018) đã nhận định rằng Ngân hàng có quyền xử lý tài sản vì “Tất cả các hợp đồng thế chấp và văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp nêu trên được ký kết giữa Ngân hàng T, chi nhánh Quảng Ngãi với Công ty P trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đều được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định của pháp luật”. Như vậy, tòa án không phân biệt rạch ròi giữa hiệu lực của thế chấp đối với hai bên và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Trong trường hợp không có bên thứ ba tranh chấp với bên nhận bảo đảm thì dù có đăng ký hay không đăng ký thế chấp, Ngân hàng vẫn có quyền xử lý tài sản thế chấp. Bùi Thị Thanh Hằng (2015, 18) cho rằng việc đăng ký hợp đồng hay đăng ký vật quyền phát sinh từ hợp đồng chỉ có ý nghĩa đối kháng với người thứ ba. Ngoài ra, Nguyễn Bích Thảo (2015) nhận định: Theo Hướng dẫn của UNCITRAL, giao dịch bảo đảm trước tiên phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định để giao dịch được xác lập và có hiệu lực đối với bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm. Ngoài ra, bên nhận bảo đảm cần thực hiện thêm một hoặc một số bước nữa để giao dịch bảo đảm có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba như đăng ký giao dịch bảo đảm, kiểm soát chi phối tài sản bảo đảm.

3.1.4. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp khi động sản tương lai hình thành.

Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về vấn đề này. Do đó, các bên có quyền lựa chọn về phương thức thực hiện. Bên nhận thế chấp luôn muốn giao kết lại hợp đồng và mô tả lại động sản để tạo thế “chắc chắn” cho mình. Bên thế chấp sẽ không mấy thiện chí trong việc xác lập lại hợp đồng. Một phần vì tốn thời gian, tiền bạc, hoặc có thể, khi chưa có quy định của pháp luật, việc khác nhau giữa mô tả chung và đặc tính hiện hữu có thể tạo thuận lợi hơn cho bên thế chấp. Điều này gây ra sự bất lợi cho một bên hoặc các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

3.2. Xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba Để tạo hiệu lực đối kháng với bên thứ ba, phương thức phù hợp đối với thế chấp động sản hình thành trong tương lai là đăng ký biện pháp bảo đảm. Cơ chế đăng ký không tác động trực tiếp đến tài sản thế chấp (phù hợp với đặc tính chưa hình thành của tài sản thế chấp là động sản hình thành trong tương lai). Pháp luật Việt Nam có những quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, những quy định về đăng ký động sản hình thành trong tương lai rất mờ nhạt.Thế chấp động sản hình thành trong tương lai được đăng ký tùy vào yêu cầu của các bên nhưng sự đồng ý của bên thế chấp về nội dung đăng ký là quy định bắt buộc (Bộ Tư pháp, 2018, Khoản 1 Điều 11). Bên thế chấp thường có xu hướng né tránh đăng ký hoặc không có thiện chí hợp tác về việc đăng ký tài sản thế chấp. Việc quy định này rất dễ dẫn đến sự trì hoãn đăng ký. Ngoài ra, việc nộp bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp là giải pháp nếu bên thế chấp không hợp tác (Bộ Tư pháp, 2018, Điểm a Khoản 2 Điều 11). Quy định này khiến cho thủ tục hành chính thêm phức tạp, gây lãng phí cho bên đăng ký. Bên nhận thế chấp là bên mong muốn công khai hóa quyền của mình trên tài sản thế chấp hơn bất kỳ chủ thể nào. Hơn nữa, việc các bên đã thỏa thuận về xác lập quyền thế chấp trong hợp đồng thế chấp đồng nghĩa với việc bên thế chấp đã đồng ý cho bên nhận thế chấp đăng ký thế chấp.

Pháp luật Việt Nam quy định ngoại trừ hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh và phương tiện giao thông cơ giới, bất kỳ động sản thế chấp nào khi “hình thành”, người đăng ký phải thực hiện thủ tục đăng ký lại (Chính phủ, 2017, Khoản 4 Điều 18). “Hình thành” ở đây nên được hiểu là sự hình thành về mặt vật lý, sự hiện hữu có thực hoặc thời điểm tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp. Quy định này khiến các bên phải thực hiện đăng ký rất nhiều lần và gây ra sự lãng phí về mặt thời gian, tiền bạc. Trong khi đó, thông lệ quốc tế đưa ra giải pháp “không cần đăng ký lại” nếu bản đăng ký ban đầu đã mô tả tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai.

3.3. Thứ tự ưu tiên.

Cách hiểu và cách tiếp cận của Bộ Luật Dân sự 2015 về “thứ tự ưu tiên” còn hạn hẹp. Tiêu đề của Điều 308 Bộ Luật Dân sự (Quốc hội, 2015), ”Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm”, đã phản ánh điều này. Lê Thị Thu Thủy & Đỗ Minh Tuấn (2015) cho rằng: Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của Ngân hàng tái thiết và phát triển châu Âu (EBRD) thừa nhận quy tắc thứ tự về thời gian, tức là thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm về mặt thời gian được sử dụng để xác định thứ tự ưu tiên của các chủ nợ có bảo đảm trên cùng một tài sản bảo đảm. Ngoài ra, trong thông lệ quốc tế, thứ tự ưu tiên không chỉ là việc xác định chủ nợ nào được thanh toán trước khi xử lý tài sản bảo đảm, mà vấn đề quan trọng hơn là pháp luật ưu tiên bảo vệ chủ thể nào nếu có xung đột về quyền, lợi ích giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác trên cùng tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, Quốc hội (2015) chưa ghi nhận quyền của bên tài trợ vốn để mua tài sản bảo đảm và thứ tự ưu tiên cao nhất của chủ thể này so với các bên nhận bảo đảm thông thường. Bên tài trợ vốn để mua tài sản bảo đảm chính là bên cho vay để mua tài sản hình thành từ vốn vay. Điều này dẫn đến những hạn chế đáng kể về khả năng cấp tài chính của người cho vay để tài trợ vốn. Bởi không một chủ thể nào hứng khởi đầu tư vào các khoản vay tài trợ vốn nếu mình bị xếp hạng ưu tiên thấp hơn một chủ thể cho vay có bảo đảm trước đó trên chính động sản mình tài trợ vốn để mua.

3.4. Xử lý tài sản thế chấp.

Về phương thức xử lý, Quốc hội (2015, Điều 303) quy định: Các bên có quyền thỏa thuận về phương thức xử lý, nếu không có thỏa thuận thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác. Việc này dẫn đến cách hiểu là khi xảy ra sự kiện vi phạm hoặc sự kiện khác làm phát sinh quyền xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận thế chấp phải thỏa thuận được với bên thế chấp về phương thức xử lý, nếu không thỏa thuận được thì chỉ có thể bán đấu giá tài sản bảo đảm. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế và sẽ gây khó khăn cho bên nhận thế chấp trong việc xử lý tài sản bảo đảm. Theo thông lệ quốc tế, trong trường hợp xảy ra hành vi vi phạm của bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền áp dụng một hoặc những biện pháp sau: (1) Chiếm hữu hoặc kiểm soát tài sản bảo đảm; (2) Bán hoặc cho thuê tài sản bảo đảm; (3) Thu hồi hoặc nhận bất kỳ khoản thu, lợi nhuận phát sinh từ việc quản lý hoặc sử dụng tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có thể tự mình thực hiện các hành vi trên hoặc yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp trên và các biện pháp này phải được thực hiện trong điều kiện thương mại hợp lý, nghĩa là được thực hiện phù hợp với hợp đồng bảo đảm trừ trường hợp hợp đồng là bất hợp lý. Trước khi tiến hành bán hoặc cho thuê tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo trước cho các bên có liên quan. (Viện quốc tế về nhất thể hóa pháp luật tư, 2001, Điều 8.1).

Về quyền tự thu giữ tài sản của bên nhận thế chấp, quy định hiện hành không cho phép bên nhận thế chấp được tự thu giữ tài sản thế chấp: “Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác” (Quốc hội, 2015, Điều 301). Xét trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, không có “luật liên quan” quy định mà chỉ có thông tư liên tịch do Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường & Ngân hàng Nhà nước (2014) hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm. Thông tư này được ban hành trước thời điểm Bộ Luật dân sự 2015 có hiệu lực nhưng đã có nhiều tiến bộ khi quy định bên nhận thế chấp được quyền tự mình thu giữ tài sản thế chấp trong trường hợp bên thế chấp hoặc người thứ ba đang giữ tài sản không giao tài sản thế chấp để xử lý nhằm tạo thuận lợi hơn cho việc xử lý tài sản thế chấp (Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường & Ngân hàng Nhà nước, 2014). Mặc dù vậy, nó vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý: Một là, chưa có sự phân biệt giữa tài sản thế chấp là bất động sản và động sản. Đối với bất động sản, quy trình thu giữ cần tiến hành một cách thận trọng và thường phải thông qua một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho phép xử lý bất động sản, và khi thu giữ cần thông báo cho chính quyền địa phương nơi có tài sản. Còn đối với động sản thì cơ chế tự thu giữ cần được quy định một cách linh hoạt, thuận tiện hơn, trao quyền chủ động lớn hơn cho bên nhận bảo đảm do tính chất dễ di dời của động sản. Hai là, pháp luật chưa đưa ra các yêu cầu, khung giới hạn đối với bên nhận thế chấp khi tự mình thu giữ tài sản thế chấp.

Về việc tự bán tài sản thế chấp của bên nhận thế chấp, Quốc hội (2015) chưa quy định bên nhận thế chấp phải tuân thủ các nghĩa vụ gì khi tự mình bán tài sản thế chấp để tránh tình trạng giá bán quá thấp, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thế chấp. Ngoài ra, pháp luật chưa đặt ra các quy định ràng buộc giữa các chủ thể có liên quan trong quá trình bán tài sản. Pháp luật chưa quy định về cơ chế thông báo về việc bán tài sản, địa điểm bán tài sản, tính khách quan về mối quan hệ giữa bên bán và bên mua, v.v… Theo Vũ Thị Hồng Yến (2017), khi bên vay đến hạn không trả được nợ thì ngân hàng đã tự ý tìm người mua tài sản thế chấp và tự thỏa thuận với người mua về giá bán tài sản thế chấp chỉ đủ để trả khoản nợ vay của ngân hàng.

Về định giá tài sản, luật mới chỉ quy định việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường, nhưng quy định này chưa đầy đủ. Nếu động sản là tài sản nhanh bị sụt giảm về giá trị và có sự dao động lớn về giá, bên nhận thế chấp sẽ có xu hướng tìm cách để định giá tại thời điểm giá trị của tài sản thấp (mặc dù vẫn phù hợp với giá thị trường).

Vấn đề xử lý tài sản hình thành trong tương lai manh nha được Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường & Ngân hàng Nhà nước (2014) quy định. Và trong đó, có quy định về xử lý động sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, những quy định này chưa chú trọng đến “tình trạng pháp lý” của tài sản này. Nói cách khác, những quy định này đơn thuần mang tên “xử lý tài sản hình thành trong tương lai” chứ chưa quy định được rõ về phương thức xử lý đối với tài sản đặc biệt này. Những quy định này chủ yếu dựa trên phương thức: tự thu giữ và nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế việc thực hiện nghĩa vụ. Những phương thức này được quy định chung cho giao dịch bảo đảm. Do đó, khi ghi tiêu đề xử lý tài sản hình thành trong tương lai là chưa phù hợp. 4. Kiến nghị.

Từ những phân tích nêu trên, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thế chấp động sản hình thành trong tương lai như sau.

4.1. Xác lập quyền thế chấp trên động sản hình thành trong tương lai.

(1) Ghi nhận động sản thế chấp không chỉ là động sản ban đầu mà bao gồm bất cứ tài sản hay nguồn lợi tài chính nào thu được từ động sản thế chấp ban đầu; (2) Sửa đổi quy định về thế chấp theo hướng không bắt buộc tài sản thế chấp thuộc sở hữu của bên thế chấp trong khái niệm của biện pháp thế chấp. Thế chấp là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó bên thế chấp dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp sẽ được nêu lên trong quy định về tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp có thể là tài sản thuộc sở hữu của bên thế chấp hoặc là tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp. Tài sản thế chấp có thể không thuộc sở hữu của bên thế chấp trong trường hợp tài sản hình thành trong tương lai;.

(3) Ghi nhận thời điểm có hiệu lực của quyền thế chấp đối với động sản hình thành trong tương lai là thời điểm động sản hình thành và thuộc sở hữu của bên thế chấp. Bên cạnh đó, pháp luật không nên quy định đăng ký là điều kiện có hiệu lực của giao dịch bảo đảm;.

(4) Ghi nhận quyền thế chấp tự động có hiệu lực khi động sản hình thành và các bên không cần xác lập lại hợp đồng thế chấp cũng như mô tả lại động sản thế chấp. 4.2. Xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba.

(1) Không nên quy định sự đồng ý của bên thế chấp hay cung cấp bản sao hợp đồng có công chứng/ chứng thực là điều kiện bắt buộc trong thủ tục đăng ký; (2) Khi động sản hình thành, các bên không cần thực hiện việc đăng ký lại.

4.3. Về thứ tự ưu tiên.

Sửa đổi tên gọi “thứ tự ưu tiên thanh toán” thành “thứ tự ưu tiên”, đồng thời quy định khái niệm mới theo nghĩa rộng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Ghi nhận bên tài trợ vốn để mua tài sản được quyền ưu tiên hơn chủ nợ có bảo đảm thông thường đồng thời đặt ra một số yêu cầu nhất định về việc hưởng quy tắc siêu ưu tiên này. Theo thông lệ quốc tế, để được hưởng quyền “siêu ưu tiên”, các chủ nợ tài trợ vốn để mua tài sản thế chấp phải đăng ký quyền thế chấp của mình trong thời hạn 20 hoặc 30 ngày sau khi bên thế chấp có được tài sản (Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế, 2007, Khuyến nghị 178- 180, 184, 192, 195).

4.4. Xử lý tài sản thế chấp.

(1) Sửa điều 303 Bộ Luật Dân sự 2015 theo hướng không cần sự đồng ý/ thỏa thuận của bên nhận bảo đảm, bên bảo đảm có quyền lựa chọn phương thức xử lý phù hợp với họ. Ngoài ra, khi tiến hành các phương thức đó, bên bảo đảm có thể tự xử lý hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án xử lý. Bên cạnh đó, ghi nhận quyền tự thu giữ tài sản thế chấp của bên nhận thế chấp và quy định vấn đề này một cách thống nhất, dựa trên một cơ chế hiệu quả.

(2) Cần đặt ra các nghĩa vụ bên nhận thế chấp phải tuân thủ khi tự mình bán tài sản thế chấp, đồng thời đặt ra các quy định ràng buộc giữa các chủ thể có liên quan trong quá trình bán tài sản. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện việc bán tài sản, pháp luật cần quy định về vấn đề cung cấp thông tin bán tài sản, địa điểm bán tài sản, sự có mặt của các chủ thể liên quan, mối quan hệ giữa bên bán và bên mua. (3) cần đặt ra một tiêu chí cụ thể, đầy đủ để định giá tài sản thế chấp. Pháp luật cần có những hướng dẫn, chú thích cụ thể về “phù hợp giá thị trường”, “thời điểm định giá”, v.v … .

(4) Cần đưa ra cơ chế xử lý phù hợp đối với đặc tính của tài sản hình thành trong tương lai:.

Trường hợp động sản chưa hình thành, Ví dụ như trong trường hợp “thế chấp toàn bộ động sản hình thành trong tương lai ”; “thế chấp toàn bộ động sản hiện có và hình thành trong tương lai”. Trong hai trường hợp này, tính từ thời điểm hợp đồng được giao kết đến thời điểm phải xử lý động sản thế chấp, có những động sản hình thành mới và có những động sản chưa hình thành. Do đó, việc xử lý động sản thế chấp sẽ chỉ xem xét đối với những động sản hình thành mới. Và quy tắc về xử lý những động sản này sẽ áp dụng quy tắc chung về xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp động sản mới hình thành một phần/ đang trong quá trình lắp ráp, pháp luật không nên buộc các bên phải xử lý tài sản ngay thời điểm này. Bởi như vậy, giá trị của tài sản rất thấp, gây bất lợi cho cả hai bên. Pháp luật nên đặt ra các quy tắc để các bên giám sát, tạo điều kiện cho động sản được hình thành. Sau đó, áp dụng cơ chế xử lý chung đối với tài sản bảo đảm. Trường hợp động sản đó không thể được hoàn thiện tiếp hoặc không thể trở thành thành phẩm; pháp luật cần đặt ra một cơ chế xử lý riêng đối với động sản hình thành dang dở này. Trường hợp động sản hình thành. Khi động sản hình thành, việc xử lý sẽ được áp dụng chung theo quy chế xử lý tài sản bảo đảm.

Tài liệu tham khảo:
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP ĐỘNG SẢN HÌNH THÀNH TRONG TƯƠNG LAI Ở VIỆT NAM
Nguyễn Thị Hoài
http://ktpt.neu.edu.vn/tap-chi/so-257-ii/muc-luc-803/phap-luat-ve-the-chap-dong-san-hinh-thanh-trong-tuong-lai-o-viet-nam.378984.aspx

Giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta hiện nay
Tiểu luận quan điểm của đảng về giải quyết các vấn đề xã hội thời kỳ đổi mới, Quan điểm của đảng về giải quyết các vấn đề xã hội thời kì đổi mới
quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới
Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội của đảng, vì sao phải giải quyết các vấn đề xã hội
Tài liệu : nghiên cứuVấn đề tăng trưởng kinh tế và sự phân hóa giàu nghèo ở thành phố ...

Xem tài liệu ở TOP 123 & Tải về Miễn phí ở đây:
>> NGHIÊN CỨU XÃ HỘI

Top tài liệu miễn phi 
Nội dung có chứa các chủ đè như sau:
Tìm thêm:

Kết quả 1
----------


----------
Hiện nay, điều kiện kinh tế thị trường cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, là yếu tố quyết định cho sự phát triển trí tuệ, sáng tạo ...
Tài liệu : nghiên cứuhội nhập và văn hoá kinh doanh việt nam - Viện nghiên cứu phát triển ...
Top tài liệu miễn phi ...a3c7...
Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu, vừa là thách thức lớn đối với hầu hết ..... thần hợp tác, cùng làm ăn, cùng có lợi, và cùng làm giàu phải được xem ...
Tài liệu : nghiên cứugiải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ cnh, hđh- một số quan điểm ...
Top tài liệu miễn phi ...a489...
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp lớn .... hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp” và “Các chính sách xã hội ...
Tài liệu : nghiên cứuthách thức đối với kinh tế hộ nông dân trước vấn đề phát triển bền ...
top tài liệu miễn phi 0fda99a2...
được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn .... Theo một cách suy luận khác, chênh lệch giàu nghèo là rất lớn khi đang tồn.
Tài liệu : nghiên cứutoàn cầu hoá văn hoá đa tuyến - Viện nghiên cứu phát triển TPHCM
top tài liệu miễn phi 0e0c949f...
hạn, theo Wikipedia, “Toàn cầu hoá là khái niệm về quá trình đa dạng, phức tạp của ..... hoá để làm giàu trên sự bóc lột các nước thế giới thứ ba kém phát triển.
Tài liệu : nghiên cứuphân tầng xã hội hợp thức và sự hình thành tầng lớp xã hội ưu trội ...
Top tài liệu miễn phi ...d338...
Phân tầng xã hội "hợp thức" là một khái niệm được các nhà xã hội học nước ta đưa .... cao, họ vẫn có thể chiếm đoạt nhiều của cải, làm giàu bất chính và những ...
Tài liệu : nghiên cứuThách thức “Bản lĩnh văn hóa Việt Nam” của người Sài Gòn trong “nền ...
top tài liệu miễn phi fc9b5a91...
trong dung nạp triết lý của các tôn giáo khác không phải để thay thế đạo gốc mà là để mở rộng tri thức và làm giàu tư duy cho dân tộc mình. Đó là chỗ dựa vững ...
Tài liệu : nghiên cứuMột số nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở nông thôn ngoại thành ...
Top tài liệu miễn phi ...6e43...
rõ nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo thực chất là một cuộc chiến chống đói nghèo đô thị, rút ngắn dần khoảng cách giàu nghèo, một trong những tiêu chí quan trọng ...
Tài liệu : nghiên cứuNguyên nhân và bản chất của khủng hoảng kinh tế tài chính hiện nay ...
Top tài liệu miễn phi ...fee0...
Anh hưởng của cuộc khủng hoảng này là hàng triệu người thất nghiệp, theo ... kinh nghiệm say máu làm giàu nhanh vật lộn với cơn xoáy tụt giá của thị trường.
Tài liệu : nghiên cứuTổng quan về xã hội Việt Nam trong quá trình đổi mới để phát triển và
top tài liệu miễn phi 3ddff82d...
sai lầm đã qua và đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước ra khỏi ... Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
Giải quyết các vấn đề xã hội ở nước ta hiện nay
Tiểu luận quan điểm của đảng về giải quyết các vấn đề xã hội thời kỳ đổi mới, Quan điểm của đảng về giải quyết các vấn đề xã hội thời kì đổi mới
quá trình nhận thức và chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ đổi mới
Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội của đảng, vì sao phải giải quyết các vấn đề xã hội

Nghiên cứu: Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công

Giải pháp hoàn thiện marketing dịch vụ hành chính công
Improving Public Administration Service Quality in Vietnam from Marketing Perspective Abstract:

Public administration service is a vital service of any country. Public administration service quality is directly related to the socio-economic development of the country. Early recognizing the importance of this issue, the Government of Vietnam in the tenure of 2016-2021 has introduced the doctrine of “building a Government for development creation, integrity, taking drastic action, serving people and businesses”. Such a government is closely related to public administration service quality provided by that government. In fact, for a long time, the Party and State have been aware of this issue. Previous governments of Vietnam have carried out much renovation and reformed administrative procedures, but the progress was not as expected. At the present time, to be able to make the above doctrine come true, the Prime Minister has set up a working group chaired by the Head of the Government Office to regularly inspect and urge the ministries, local authorities to “simplify” administrative procedures, but a government “for development creation, integrity, taking drastic action, serving” still does not appear. What should be done to really improve public administration service quality in Vietnam today? Based on the review of existing proposals and the assessment of current status of public administration service quality in Vietnam today, this paper will focus on a new approach – from market perspective – to get access to the nature of public administration service in the context of the society led and ruled by one communist party to establish market economy institutions. This helps increase scientific justification for the determination to implement existing solutions and possibly suggest more effective, better solutions for the provision of public administration service in Vietnam today.
Keywords: Public administration service, Marketing perspective, Solutions

1. Đặt vấn đề

Dịch vụ hành chính công là một dịch vụ mà chủ thể là chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương của một quốc gia cung cấp cho xã hội để thực hiện những điều liên quan đến thể chế đã được Hiến pháp và các Bộ luật của quốc gia đó quy định. Do đó, dịch vụ hành chính công là một bộ phận cấu thành tối quan trọng của thể chế phát triển của quốc gia đó. Việt Nam theo đuổi thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được trên 30 năm.

Trong suốt chặng đường đó, đã không ít lần Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra chủ trương cải cách nền hành chính công, nhưng cho đến nay nền hành chính công ở Việt Nam vẫn chậm đổi mới và chưa đáp ứng tốt cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có lúc, có nơi, có lĩnh vực thủ tục hành chính vẫn như một cái “ách” và trở thành một trong những rào cản nặng nề nhất cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Minh chứng cho nhận định này, trong một phiên họp chuyên đề của Chính phủ về xây dựng pháp luật, ngày 22/8/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phải nhận xét: “Với quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp”, nhưng ông “Chưa hài lòng về công việc này trong thời gian qua…” điều đặc biệt là, “trong khi Chính phủ đang thực hiện cải cách hành chính rất mạnh mẽ, thì có luật đưa ra lại “đẻ” thêm thủ tục, quyền hạn cho bộ mình, ngành mình, buộc các bộ, ngành khác “phải qua mình” nên thủ tục chồng lên chất nhiều” (Linh Tâm, 2017a). Để thực hiện cho bằng được công việc này “Chính phủ kêu gọi các bộ, ngành, địa phương từ bỏ quyền lực để rộng đường cho doanh nghiệp phát triển”. Vì theo như Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho rằng: “Có dám từ bỏ quyền lực vì doanh nghiệp, có chống được lợi ích nhóm, thì mới có thể xây dựng thành công Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đó là con đường chỉ được phép tiến, lùi là thất bại. Vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ xuất hiện ngay từ khi xây dựng thể chế…” (Đoàn Trần, 2018a). Quyết tâm đó của Chính phủ đã được sự đồng thuận và bảo trợ cao của lãnh đạo Đảng. Tại các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Đảng đã chia sẻ “không chỉ đánh tham nhũng lớn, mà còn tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng tham nhũng vặt vì đi làm gì cũng phải phong bao, phong bì, lót tay, gợi ý. Tham nhũng vặt như ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu, chứ không phải chỉ có tham nhũng lớn”. Như vậy Đảng và Chính phủ có quyết tâm chính trị rất cao về việc xây dựng một nền hành chính công hiệu quả và văn minh. Nhưng thực tế vẫn còn nhiều việc không mong muốn vẫn xuất hiện và dai dẳng tồn tại. Bộ trưởng Văn phòng Chính đã nhận xét “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/ năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…Nếu cứ như vậy thì các doanh nghiệp của chúng ta làm sao cạnh tranh được với DN các nước?” (Đoàn Trần, 2018a).  Theo ông, ở một số lĩnh vực vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu và chi phí không chính thức, thủ tục hành chính mặc dù đã được cải cách nhưng vẫn còn nhiều “cửa”, nhiều “khóa”; cắt giảm nhiều thủ tục chưa đạt như mong muốn” (Đoàn Trần, 2018b). Có thể nói, những phát biểu trên của các cấp lãnh đạo Chính phủ đã cho thấy bức tranh toàn cảnh về nền hành chính công của Việt Nam hiện nay. Một nền hành chính công yếu kém như thế làm sao Việt Nam có được một thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vậy vì sao việc cải cách nền hành chính công của Việt Nam rất trì trệ, làm gì nữa và làm như thế nào để có một bước đột phá thực chất trong việc xây dựng một nền hành chính công và kèm theo đó là cung cấp các dịch vụ hành chính công (không bàn đến dịch vụ công, nói chung) của Việt Nam theo mong đợi của người dân và doanh nghiệp, để lời hứa về một Chính phủ “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động và phục vụ” trở thành hiện thực, để một “nhà nước của dân, do dân và vì dân” không còn chỉ là một khẩu hiệu.? Đó là câu hỏi lớn mà bài viết này muốn hướng đến góp phần giải đáp dưới góc nhìn của khoa học marketing.

2. Tổng quan kinh nghiệm của một số nước có hoàn cảnh tương đồng như Việt Nam và các công trình nghiên cứu

Đặc trưng nổi bật nhất chi phối đến nền hành chính công của Việt Nam theo tác giả là nền hành chính ấy chịu sự chi phối duy nhất của một đảng cầm quyền và lãnh đạo. Trên thế giới hiện nay đang tồn tại một loạt quốc gia có bối cảnh tương đồng như Việt Nam, chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo đất nước như: Cuba, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (về mặt pháp lý có 8 đảng tham gia chính trị), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Việt Nam, Syria, Ertrea, Turkmenistan, Sahrawi Arab Democratic Republic, Iran, Singapore (hơn 90% số ghế trong Quốc hội đơn viện thuộc về Đảng Nhân dân Hành động). Một số quốc gia khác có hệ thống đa đảng, nhưng chỉ có một đảng nắm vai trò then chốt trong thời gian dài nên cũng có thể xem như đơn đảng, đó là: Singapore, Nga, Campuchia, Cameroon, Gabon, Tanzania…Từ đây, có thể thấy trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, các quốc gia do một đảng duy nhất lãnh đạo, không lựa chọn phát triển theo mô hình kinh tế thị trường đã từng xuất hiện và tồn tại khá nhiều, nhưng có thể khẳng định, chưa có một quốc gia nào thực sự thành công, theo nghĩa thuộc quốc gia phát triển. Các quốc gia đứng trong tốp các quốc gia phát triển hiện nay chủ yếu đều thuộc các quốc gia có nhiều đảng thay nhau tranh cử và lãnh đạo theo mô hình kinh tế thị trường. Các quốc gia phát triển theo mô hình kinh tế thị trường và duy nhất chỉ có một đảng giữ vai trò lãnh đạo và chi phối nền hành chính quốc gia có sự thành công lại không nhiều. Trong số này, cho đến nay mới thấy có Singapore và Trung Quốc (đang nổi lên). Có thể nói, sự thành công trong xây dựng và phát triển của đất nước Singapore dưới sự lãnh đạo lâu dài và giữ vị trí thống trị của một đảng – Đảng Nhân dân Hành động với sự phát triển kinh tế có tốc độ cao liên tục, làm tăng nhanh chóng “quốc lực tổng hợp” và nhảy lên vị trí thứ hai trên thế giới về tổng thu nhập quốc dân, chỉ sau Mỹ. Trung Quốc trong hàng chục năm qua cũng là bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo tốt cho Việt Nam, đặc biệt là tình huống Singapore trong tiến trình xây dựng và cải cách nền hành chính công..

Bài học có thể rút ra từ tình huống Singapore chính là việc có một đảng mạnh lãnh đạo và một chính phủ quyết đoán, hành động, trong sạch, kiến tạo, phục vụ và thực tài. Tài năng ấy của Đảng cầm quyền và Chính phủ Singapore được thể hiện bằng lòng trung thành và niềm tin của dân chúng với dịch vụ hành chính công mà Chính phủ Singapore cung ứng thông qua tỷ lệ phiếu lựa chọn đảng lãnh đạo đất nước trong mỗi lần bầu cử. Từ sau ngày đất nước độc lập, đưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Hành động, mà hạt nhân là cố Thủ tướng Lý Quang Diệu, đất nước Singapore luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (ngoại trừ năm 1985 tốc độ tăng trưởng kinh tế âm, năm 1986 chỉ tăng 1,9%). Cho đến nay mức thu nhập quốc dân (GDP) bình quân đầu người của Singapore xếp thứ tư trên thế giới, đạt 90.249USD

người. Hoặc như Trung Quốc, sau gần 40 năm “cải cách, mở cửa” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, với hạt nhân là Chủ tịch Tập Cận Bình đã thúc đẩy Trung Quốc vươn lên vị trí thách thức “siêu cường” của Mỹ. Tuy nhiên, tại Trung Quốc Đảng Cộng sản cũng đã tìm thấy một trong những yếu tố cản trở nhất tới uy tín lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc và còn thiếu so với Đảng Nhân dân Hành động của Singapore là nạn tham nhũng tràn lan. Để loại bỏ yếu tố đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang tiến hành chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi” nhằm làm tăng uy tín và vị thế lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc không chỉ ở trong nước mà cả trên trường quốc tế. Bởi vậy, việc Chính phủ Việt Nam nhiệm kỳ 2016-2021 đưa ra chủ thuyết xây dựng một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” với quyết tâm cao trong phòng chống tham nhũng cũng như chấn chỉnh và cải tổ bộ máy là rất trúng và kế thừa được bài học kinh nghiệm từ Singapore và Trung Quốc. Điều này cũng được thể hiện qua ý chí của người đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam. Thêm vào đó, những động thái liên tục kiểm tra giám sát “cương lĩnh hành động” của Chính phủ Việt Nam cho thấy Đảng và Chính phủ Việt Nam đã đánh giá cao và nhận thức trúng về tầm quan trọng của việc đổi mới một cách nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Việt Nam. Kể từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đương nhiệm của Việt Nam đã tập trung cao độ trong việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công gắn liền với cải cách bộ máy, tinh giản biên chế và xây dựng con người trong việc thực thi pháp luật về cung ứng dịch vụ hành chính công.

Trên phương diện khoa học cho thấy, tại Việt Nam đã có nhiều đề án, nhiều công trình khoa học thuộc đề tài nghiên cứu các cấp, một số sách và bài viết đề cập đến lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Những công trình, bài viết đó, hoặc đề cập đến đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc đề cập đến nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, hoặc chuyên về đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam theo các góc nhìn khác nhau của các khoa học chuyên ngành cụ thể. Trên cơ sở đó, các công trình, đề tài, bài viết đề xuất nhiều sáng kiến, nhiều giải pháp rất đáng lưu tâm. Liên quan đến chủ đề này có thể kể đến các công trình như: “Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra” (http://www.kdtqt.duytan.edu. vn); “Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (text.xemtailieu.com); Trần Kim Cúc (2010), Vũ Trí Dũng (2014), nghiên cứu “Cải cách hành chính công ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thâm (Học viện Hành chính Quốc gia). Dưới đây xin đề cập tới một số công trình, bài viết điển hình liên quan tới chủ đề này.

Nguyễn Văn Đồng (2017) đã phân tích, luận giả vấn đề xoay quanh dịch vụ hành chính công, làm rõ thực trạng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống các khái niệm có giá trị tham khảo tốt. Về khái niệm dịch vụ công bài viết cho rằng: “Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung, thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân do Nhà nước trực tiếp thực hiện nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng”. Trong bài viết này, tác giả cũng phân chia dịch vụ công thành 3 loại, bao gồm: Dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp, dịch vụ công trong lĩnh vực công ích và dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính nhà nước hay còn gọi là dịch vụ hành chính công. Từ đó tác giả đưa ra khái niệm dịch vụ hành chính công như sau: “Dịch vụ hành chính công là một loại dịch vụ công do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân”. Nói cách khác, dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của Nhà nước”. Dịch vụ hành chính công là một hợp phần nằm trong “nền hành chính nhà nước” với bốn yếu tố cấu thành: hệ thống thể chế nhà nước, hệ thống tổ chức hành chính nhà nước, nhân sự trong bộ máy hành chính nhà nước, các nguồn lực vật chất cần thiết cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong bài viết này tác giả cũng liệt kê các dịch vụ hành chính công điển hình như: các hoạt động cấp các loại giấy phép; các hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực; các hoạt động cấp giấy đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề; hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của nhà nước; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính.

Cuốn sách “ Marketing dịch vụ công” của Vũ Trí Dũng (2014) đã đề cập khá toàn diện về marketing dịch vụ công. Tác giả đi từ khái niệm dịch vụ công, các cách phân loại dịch vụ công, đặc điểm marketing dịch vụ công, môi trường marketing dịch vụ công, chiến lược phát triển của tổ chức dịch vụ công, nghiên cứu thị trường dịch vụ công và các công cụ marketing-mix của dịch vụ công. Tuy nhiên, do cuốn sách tập trung vào dịch vụ công với cấu phần là tổ hợp các dịch vụ công rất khác nhau, nên không thấy rõ được đặc trưng của thị trường và cung ứng từng loại dịch vụ công và do đó cũng không làm rõ được tính đặc thù của marketing từng loại dịch vụ công. Với cách tiếp cận khái quát như vậy đã làm giảm đi triển vọng ứng dụng marketing đòi hỏi tính đặc thù cho từng loại dịch vụ công rất nhiều Còn nhiều đề tài và nghiên cứu khác nữa tiếp cận đến các góc độ khác nhau của dịch vụ hành chính công ở Việt Nam như đã chỉ ra ở trên, phục vụ cho các mức độ quyết sách khác nhau của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong cung ứng dịch vụ hành chính công cho dân chúng. Song chưa có một công trình, bài viết nào khám phá sâu vào bản chất, đặc trưng của marketing dịch vụ hành chính công, nên nền hành chính công ở Việt Nam, nhìn chung vẫn chưa thoát thai ra khỏi tư duy hành chính quan liêu, chưa theo kịp và chưa đáp ứng tốt cho công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế của đất nước. Vậy nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đâu, bằng cách nào để tháo gỡ? Bài viết này sẽ đề cập hai khía cạnh: (i) Xem xét đặc điểm cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và, (ii) Đưa ra các kiến nghị tháo gỡ cho thực trạng trên từ góc nhìn marketing dịch vụ.

3. Đặc điểm của việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam và nguyên nhân sâu xa của những bất cập

Như chúng ta đã biết marketing ra đời trong bối cảnh có cạnh tranh. Cạnh tranh đã buộc các chủ thể cung ứng hàng hóa và dịch vụ phải tìm ra bí quyết để “lôi kéo” khách hàng. Các chủ thể cung ứng dịch vụ muốn khách hàng bỏ tiền ra để mua hàng hóa dịch vụ do mình cung ứng thì họ phải tìm cách “thỏa mãn khách hàng một cách ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh” thông qua triết lý và tổ hợp marketing-mix (marketing hỗn hợp). Nếu chỉ có một chủ thể duy nhất cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho xã hội thì loại hàng hóa và dịch vụ đó là hàng hóa dịch vụ độc quyền. Đối với hàng hóa, dịch vụ độc quyền thì chủ thể cung ứng không cần phải có bất kỳ sự “cạnh tranh” nào nhưng “khách hàng” vẫn phải mua. Không có cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền. Độc quyền gắn liền với trì trệ. Đây là hai vế song trùng của bất kỳ hiện tượng kinh tế - xã hội nào. Hiện tượng này kéo lùi sự phát triển. Nhận thức được tính tất yếu này tất cả các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển phải tìm cách phá thế độc quyền bằng cách ban hành Luật chống độc quyền và khuyến khích cạnh tranh. Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ hành chính công các quốc gia này thường chấp nhận đa đảng. Khi đó các đảng phái chính trị muốn dành được dân chúng bỏ lá phiếu (thay cho bỏ tiền để mua như hàng hóa thông thường) “mua” dịch vụ hành chính công của đảng mình thì tự đảng đó phải cạnh tranh với đảng khác trong việc cung cấp dịch vụ hành chính công sao cho thỏa mãn tốt nhất mong đợi của dân chúng.

Như đã khẳng định ở trên, đặc điểm nổi bật của lãnh đạo công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay là chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo và cầm quyền. Nền hành chính công của Việt Nam bị chi phối rất lớn bởi đặc điểm này. Do đó, có thể khẳng định, nền hành chính công của Việt Nam là một dịch vụ độc quyền. Nhưng do lịch sử để lại Việt Nam không thể khác được. Theo chúng tôi, do đặc điểm cốt lõi này mà mặc dù đã qua nhiều cuộc cải cách nhưng việc cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam đã từng mang đậm dấu ấn của tư duy và cách thức cung cấp dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền theo kiểu của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung - quan liêu, theo cơ chế “xincho”, “ ban phát”. Do đặc điểm này mà việc chuyển đổi một cách căn bản toàn diện hệ thống hành chính quan liêu sang hệ thống hảnh chính kiến tạo và phục vụ nhằm đảm bảo tính tương đồng với yêu cầu của việc cung cấp dịch vụ hành chính công theo mô hình cạnh tranh của kinh tế thị trường trở nên cực kỳ khó khăn. Chính vì điều này, nên nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay mang đậm dấu ấn của một nền hành chính “thoái marketing”. Để góp phần cải thiện tình trạng “trì trệ” trong công cuộc cải cách nền hành chính công ở Việt Nam hiện nay, cần phải có góc nhìn và xử lý theo tư duy và triết lý marketing. Chỉ có xuất phát từ góc độ đó mới làm rõ luận cứ khoa học và sự kiên quyết trong thực thi những giải pháp mà Chính phủ đang tiến hành. Và đây chính là “khoảng trống” mà chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách thấu đáo xuất phát từ cái chốt của vấn đề.

Nếu không phá thế độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay, thì tất yếu sẽ hình thành “nhóm lợi ích”, tham nhũng, quan liêu và trì trệ, thường bị các chủ thể hoặc nhân danh chủ thể cung ứng dịch vụ khai thác gây tổn hại cho lợi ích của những người thụ hưởng – khách hàng của dịch vụ hành chính công là dân chúng và doanh nghiệp. Ở hầu hết các quốc gia đi theo mô hình kinh tế thị trường thành công thì đồng thời họ phải tuân thủ trong việc xây dựng một nền tảng cho sự tồn tại của cơ chế vận hành marketing không chỉ trong đời sống kinh tế mà phải cả trong đời sống chính trị. Một quốc gia như thế sẽ làm cho thể chế kinh tế và thể chế chính trị vận động thuận chiều trên cơ sở những nguyên tắc kiểm soát chung. Tất nhiên, mô hình cạnh tranh trong cung ứng toàn bộ các hàng hóa và dịch vụ, kể cả dịch vụ hành chính công vẫn cần sự kiểm soát vận hành để loại trừ sự khủng hoảng do cạnh tranh tự phát gây ra.

Còn với mô hình độc quyền trong cung ứng dịch vụ hành chính công thì cần phải có cơ chế kiểm soát theo hướng phá thế độc quyền của chủ thể cung ứng. Để thực hiện được điều này, việc ứng dụng triết lý marketing vào quản lý cung ứng dịch vụ hành chính công là một hướng tích cực. Nội hàm căn bản nhất của triết lý marketing là đề cao quyền lực của “khách hàng” trong giao dịch “mua, bán” dịch vụ hành chính công. Mọi cải cách hay giải pháp đề xuất nhằm cải thiện thực trạng đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công mang tính độc quyền ở Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ triết lý này.

Một đặc điểm khác nữa của dịch vụ hành chính công cũng giống như mọi dịch vụ khác là chất lượng dịch vụ thường không đồng đều. Tính không đồng đều về chất lượng dịch vụ càng tăng lên và càng khó kiểm soát khi sự tham gia của con người vào các khâu trong chuỗi cung ứng dịch vụ càng lớn và sự chuyển giao việc cung ứng dịch vụ phải trải qua nhiều công đoạn, nhiều khâu và nhiều người cung ứng khác nhau. Cho nên muốn cải thiện thực sự chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công phải tìm cách giảm thiểu sự can thiệp của con người, giảm chia nhỏ các khâu của quá trình cung ứng, nâng cao chất lượng con người của hệ thống và tạo cơ chế cạnh tranh của các vị trí chủ chốt trong hệ thống.

4. Một số gợi ý cho việc đổi mới cung ứng dịch vụ hành chính công ở Việt Nam

Theo chúng tôi, muốn tạo ra một bước tiến rõ nét trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công theo yêu cầu của thể chế kinh tế thị trường cần phải đẩy mạnh ứng dụng triết lý marketing. Theo đó, những giải pháp thực hiện cần tập trung vào nâng cao vị thế của “khách hàng” thụ hưởng dịch vụ hành chính công, tức là nâng cao vị thế của cử tri và doanh nghiệp, trong việc “gây sức ép” đối với chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công thông qua các “giá trịlợi ích” đem lại từ các biến số marketing hỗn hợp. Những giải pháp chủ yếu có thể khai thác bao gồm:

Một là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ hành chính công. Như trên đã khẳng định, do tính chất độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công, nên đã tạo cho chủ thể cung ứng dịch vụ đó trở nên “độc đoán, chuyên quyền”, chỉ chăm lo thu vén và bảo vệ lợi ích của mình, lợi ích nhóm, bất chấp lợi ích của khách hàng. Thậm chí, các chủ thể cung ứng dịch vụ hành chính công còn tìm mọi cách lẩn tránh, che đậy sự kiểm soát trong nội bộ hệ thống. Vì vậy, lối thoát của bế tắc này chỉ có thể là chủ thể lãnh đạo của hệ thống (Đảng cộng sản) phải trao một phần quyền lực cho khách hàng (cử tri và doanh nghiệp). Trên thực tế, Đảng đã làm nhiều việc để tăng cường kiểm soát nội bộ của hệ thống như: tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đảng; tăng cường giám sát của cấp trên với cấp dưới, tăng cường vai trò của hệ thống kiểm tra của Đảng và thanh tra của Chính phủ…Nhưng tất cả những việc đó mới được ráo riết thực hiện gần đây và suy cho cùng, đây cũng chỉ là sự giám sát nội bộ và hiệu quả như chúng ta thấy, chưa đạt được như mong đợi, vẫn chỉ là tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Muốn cải cách tình trạng hiện nay một cách thường xuyên, liên tục đem lại hiệu quả bền vững cần tăng cường sự giám sát ngoài hệ thống mà cụ thể hơn phải là tăng cường vai trò của khách hàng và doanh nghiệp thụ hưởng dịch vụ hành chính công. Liên quan đến hướng này có nhiều giải pháp khác nhau, nhưng một trong những việc cần làm trước mắt, theo chúng tôi, phải là: đối với các vị trí chủ trì của toàn bộ hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải có chương trình và kế hoạch hành động cụ thể khi tranh cử trong suốt nhiệm kỳ và được công khai trước khách hàng. Đây thực chất là “hữu hình hóa” dịch vụ để khách hàng phần nào nắm được chất lượng dịch vụ sẽ được cung cấp, xuất phát từ tính chất vô hình của dịch vụ, nói chung. Căn cứ vào đó khách hàng sẽ giám sát tiến độ thực hiện chương trình và kế hoạch của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng cung cấp dịch vụ hành chính công do người chủ trì đó quản lý. Cấp ủy lãnh đạo trực tiếp và cấp trên sẽ dựa vào ý kiến khách hàng để tiếp tục duy trì và yêu cầu chấn chỉnh hoặc bãi nhiệm các cá nhân giữ vị trí chủ trì của các cấp chính quyền. Điều mấu chốt của ý tưởng này là phải thu thập được thông tin thực và chính xác về việc đánh giá năng lực và phẩm chất từ phía khách hàng đối với các vị trí chủ chốt của các cấp chính quyền và các cơ quan có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ hành chính công. Đối với Việt Nam hiện nay ngoài việc làm cho các cấp của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và Phòng Thương mại và Công nghiệp thực sự trở thành cơ quan đại diện cho cử tri và doanh nghiệp, cần thành lập và gia tăng vai trò của các tổ chức dân sự, vai trò của các hội quần chúng…Muốn gia tăng vai trò của các cơ quan và tổ chức nói trên theo hướng đại diện cho khách hàng cần giảm sự can thiệp của các cấp ủy Đảng vào cương lĩnh hoạt động của các tổ chức này, trừ khi các tổ chức đó có những biểu hiện chống Đảng, chống Nhà nước.

Hai là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát “giá” dịch vụ hành chính công. Trên danh nghĩa hiện nay “cái giá” được công bố chính thức cho khách hàng để được cung ứng dịch vụ công rất thấp, tức là các chi phí để hoàn thành một dịch vụ hành chính công là khá “rẻ”, nhưng trên thực tế cái giá đó rất “đắt” do các chi phí ngầm là rất lớn. Đúng như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ khẳng định “Vẫn còn nhiều lắm những nỗi trần ai khi doanh nghiệp còn phải mất đến 30 triệu ngày công và chi phí gần 15.000 tỷ đồng/năm chỉ vì chi phí kiểm tra chuyên ngành trong các hoạt động xuất nhập khẩu, kiểm dịch, kiểm tra hàm lượng một số loại hóa chất…”. (Đoàn Trần, 2018a. Đây mới chỉ là những tư liệu liên quan đến một mảng hoạt động nhỏ của dịch vụ hành chính công. Nếu có một con số thống kê đầy đủ về những hao tổn không chính thức mà các cử tri và doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình thực hiện các dịch vụ hành chính công thì sẽ chứng minh được chính xác cái giá của các dịch vụ hành chính công “đắt đỏ” đến mức nào. Đây chính là giá độc quyền nhưng ngân sách nhà nước lại không thu được. Để giải quyết tình trạng này, trên thực tế Đảng và Nhà nước cũng đang thực hiện nhiều việc như: phòng chống tham nhũng; thực hiện cơ chế một cửa và một cửa liên thông; xây dựng chính phủ điện tử,…Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần thực hiện quyết liệt và hiện thực hóa các giải pháp trên, mặt khác, cùng với quá trình đó cần kiên quyết thực hiện mạnh và mạnh hơn nữa việc giảm biên chế trên cơ sở thực hiện khoán công việc, tăng lương đúng mức và xứng đáng đủ để tái sản xuất sức lao động cho các cán bộ và nhân viên làm việc có hiệu quả trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công, sử dụng nghiệp vụ “tình báo – đóng vai” trao cho khách hàng để giám sát và kiểm tra sâu từ bên ngoài các nhân viên và các bộ phận có liên quan đến cung ứng các dịch vụ “dễ phát sinh tham nhũng vặt”, xử lý đủ nghiêm đến mức phải loại ra khỏi bộ máy hoặc xử lý hình sự những cán bộ và nhân viên có hành vi sai phạm được phát hiện. Bên cạnh đó, cũng có thể nghiên cứu để quy định giá trần cho nhiều dịch vụ hành chính công đang được cung ứng “miễn phí” bởi hệ thống chính quyền hiện nay, đồng thời nâng trần giá chính thức các dịch vụ hành chính công còn “rẻ”. Không nên quan niệm miễn phí hoặc giá rẻ đã là tốt cho khách hàng nếu hàng hóa, dịch vụ đó không thỏa mãn mong đợi của khách hàng.

Ba là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống “phân phối” dịch vụ hành chính công. Như trên đã gợi ý, do các dịch vụ hành chính công hiện nay chủ yếu được cung cấp miễn phí bởi hệ thống chính quyền các cấp, có nghĩa là kênh phân phối các dịch vụ hành chính công tới khách hàng còn là kênh đơn nhất. Cấu trúc kênh như thế thực chất là kênh độc quyền duy nhất. Như mọi hàng hóa, dịch vụ thông thường khác khi cấu trúc kênh theo kiểu này chỉ có lợi cho chủ thể cung ứng. Cho nên, theo tác giả, song song với kênh này và cùng với việc quy định giá trần cho các dịch vụ hành chính công nên cho phép thành lập các Công ty bên ngoài hệ thống hành chính hiện hành tham gia đấu thầu cung cấp các dịch vụ hành chính công. Với cách này sẽ phá thế độc quyền duy nhất của hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công hiện nay và tăng thêm quyền kiểm soát của khách hàng thông qua quyền lựa chọn kênh cung ứng dịch vụ hành chính công.

Bốn là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát hệ thống truyền thông dịch vụ hành chính công. Để công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia thành công, một mặt phải tăng cường hơn nữa vai trò và quyền tự do thông tin hệ thống báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông kiểm soát, cần cho phép quần chúng có thể bày tỏ nguyện vọng và phản ánh thông tin về chất lượng dịch vụ hành chính công, cũng như thông tin về phẩm chất và năng lực của các cơ quan, của các cán bộ, nhân viên trong hệ thống cung ứng dịch vụ hành chính công qua các kênh khác như mạng xã hội và internet, không nên coi những kênh này là kênh không chính thống. Tác giả cho rằng, nếu được tổ chức tốt và khuyến khích thì đây lại là hệ thống thông tin phản biện đa chiều có vai trò rất tích cực trong việc đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả của việc cải cách nền hành chính quốc gia. Đây là xu hướng phù hợp với thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, cần khai thác mặt tích cực chứ không nên chỉ nghĩ đến việc khó quản lý để cấm đoán.

Năm là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát quy trình cung ứng dịch vụ hành chính công. Theo hướng này, Chính phủ, chính quyền các cấp và các cơ quan có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ hành chính công cần phải ban hành bộ sách và công khai đầy đủ về mọi quy trình cung ứng từng loại dịch vụ hành chính công. Trong mỗi bước của quy trình cần các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng… gì để vượt qua. Các điều kiện, giấy tờ, bằng chứng …đó thế nào là hợp quy, thế nào là không hợp quy. Để hoàn thành thủ tục mỗi bước và toàn bộ của một dịch vụ cụ thể cần thời gian là bao nhiêu và nghĩa vụ giải đáp, phải trả lời và trả kết quả cho một dịch vụ hành chính công.

Sáu là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát yếu tố con người (cả cán bộ và nhân viên) có liên quan đến cung ứng dịch vụ hành chính công. Trước hết, phải nâng cao vai trò của khách hàng, cử tri và doanh nghiệp trong việc bầu các vị trí chủ chốt của toàn bộ hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương và phải coi đây là kênh chính thức và có trọng số quyết định. Các tổ chức khác có thể giới thiệu nhân sự ứng cử vào từng vị trí chủ chốt với trách nhiệm chủ yếu là công khai về phẩm chất và năng lực của các ứng viên cho cử tri – khách hàng. Còn các ứng viên, như đã nói ở trên, phải có chương trình và kế hoạch hành động. Sau khi các ứng viên đã trúng cử, bằng nhiều hình thức khác nhau (hòm thư góp ý, phiếu chấm điểm, tổ chức điều tra xã hội học…), cơ quan cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp phải định kỳ tổng hợp và thông báo kết quả công khai thăm dò ý kiến và dư luận xã hội về phẩm chất, năng lực và tiến độ giải quyết công việc của từng bộ phận, cơ quan, vị trí công vụ.

Bảy là, nâng cao vai trò của cử tri và doanh nghiệp trong việc kiểm soát cung ứng dịch vụ hành chính công bằng cách khẩn trương xây dựng một chính phủ điện tử. Chính phủ điện tử chẳng qua là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được thay đổi theo một khái niệm hoàn toàn mới, chính phủ đó gần và thuận lợi với công dân hơn bằng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mọi quan hệ giữa chính phủ và công dân bảo đảm tính minh bạch, công khai, thuận tiện, bảo đảm sự kiểm soát và giám sát lẫn nhau giữa công dân với chính phủ”. Chính phủ điện tử là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được “điện tử hóa”, “mạng hóa” ( Wikipedia).

Xây dựng chính phủ điện tử là yêu cầu tất yếu của thời đại của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Do sớm nhận thức được điều này nên ngay từ năm 2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36- NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong đó chỉ rõ: “Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…”. Nghị quyết đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 “triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực”. Để triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2015 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiên Nghị quyết số 36- NQ/TW ngày 1 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tiếp đến ngày 14 tháng 10 năm 2015 Chính phủ ban hành Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử. Mới đây nhất, Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập Ủy ban Quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin về xây dựng Chính phủ điện tử. Tất cả các chủ trương của Đảng và hành động của Chính phủ chứng tỏ vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính phủ điện tử đã trở nên bức bách hơn bao giờ hết.

Trên góc độ marketing dịch vụ, xây dựng chính phủ diện tử cũng là phương sách thay đổi căn bản yếu tố môi trường vật chất (công cụ thứ 7 của tổ hợp marketing dịch vụ), gắn với đặc trưng về tính chất không đồng đều của chất lượng dịch vụ khi sự can thiệp của con người vào quá trình cung ứng quá nhiều. Thay đổi yếu tố môi trường vật chất cùng với thay đổi tư duy và phương thức cung ứng dịch vụ hành chính công sẽ kéo theo sự thay đổi khả năng kiểm soát của khách hàng với tất cả các biến số khác của marketing hỗn hợp. Cho nên có thể nói, việc xây dựng chính phủ điện tử, mặc dù gần đây đã được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quan tâm khởi động, nhưng phải nên coi đây là công việc nên làm trước hết và tập trung nguồn lực làm bằng được trong tiến trình hiện thực hóa một chính phủ “phục vụ, kiến tạo, hành động và liêm chính” Đây là hệ thống đồng bộ các giải pháp từ góc nhìn của marketing đối với việc cung ứng dịch vụ hành chính công. Thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả và đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam chắc chắn sớm rút ngắn khoảng cách chênh lệch trong chất lượng dịch vụ hành chính công được cung ứng, kéo theo đó là góp phần cải thiện một cách rõ nét về vị thế và thứ hạng về mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư so với các nước thuộc tốp đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và chủ thuyết về việc xây dựng một “Chính phủ kiến tạo, dịch vụ, liêm chính và hành động” một cách thực chất mới nhanh chóng trở thành hiện thực.

Tài liệu tham khảo:
CẢI CÁCH DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ MARKETING DỊCH VỤ
Trần Minh Đạo
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 257 tháng 11/2018 P.11

Mã giảm giá + Top123.vn

Biểu mẫu liên hệ

Name

Email *

Message *

Powered by Blogger.